Friday, November 23, 2018

Đông Cảm. Thơ Song Nghiên.




Đông cảm

Tám mươi tuổi ngoại hưởng nhàn thân,
Bỗng chợt phong thu thổi lại gần.
Ríu rít tiếng oanh reo trước ngõ,
Vui tươi nắng bạc tỏa ngoài sân.
Tâm trì phẳng lặng vương nhiều ít,
Trí trị xôn xao mắc bội phần.
Đắc ý đời người tìm chẳng dễ,
Thi văn đối đáp suốt thu xuân.

Song Nghiên
23 tháng 11, 2018

Monday, November 19, 2018

Cristo de La Habana. Cuba. TNDG

Tượng Đài chúa Kitô của Havana.




Chúa Kitô của Havana (tiếng Tây Ban Nha: Cristo de La Habana) là một tác phẩm điêu khắc lớn đại diện cho Chúa Giêsu của Nazareth trên đỉnh đồi nhìn ra vịnh ở Havana, Cuba.
 Đây là tác phẩm của nhà điêu khắc người Cuba Jilma Madera, người đã giành được phần tiền hoa hồng cho tác phẩm sáng tạo vào năm 1953.
 
Bức tượng được chạm khắc bằng đá cẩm thạch Carrara trắng, cùng loại vật liệu được sử dụng cho nhiều
 di tích của Nghĩa trang Colon. Bức tượng cao khoảng 20 mét (66 ft) bao gồm một căn cứ 3 mét (10 ft).
 Nó nặng khoảng 320 tấn. 
Bức tượng được xây dựng từ 67 khối đá cẩm thạch được mang đến từ Ý sau khi được Đức Giáo Hoàng
 Pius XII ban phước. Hình tượng Chúa Kitô đang đứng với bàn tay phải được giữ gần cằm và tay trái 
gần ngực ngài. Đối mặt với thành phố, bức tượng được sáng tạo với đôi mắt như trống không để tạo
 ấn tượng nhìn toàn bộ, từ bất cứ nơi nào mà tượng được nhìn thấy.


                                                          Photo : GNT
 
Tác phẩm điêu khắc chúa Kitô nằm ở ngoại ô Havana của Casablanca, trong khu đô thị của Regla,
 được khánh thành trên ngọn đồi La Cabana vào ngày 24 tháng 12 năm 1958.
 Chỉ mười lăm ngày sau khi tượng được khánh thành thì Fidel Castro tiến vào Havana trong cuộc
 cách mạng Cuba ngày 8 tháng 1 năm 1959.
 
Tác phẩm điêu khắc nằm 51 mét (167 ft) trên mực nước biển, với độ cao tổng cộng 79 mét (259 ft), 
cho phép người dân và du khách nhìn thấy nó từ nhiều điểm của thành phố, và  khi đứng nhìn 
bao quát tại chân bức tượng thì ta có thể thấy hầu hết thành phố Havana.
 
(from Wikipedia: https://en.wikipedia.org/wiki/Christ_of_Havana )
 
 

TNĐG 

Cây Trái Xúc Xích Phi Châu. Kigelia africana. TNDG

Cây Xúc Xích

Sausage Tree. Kigelia africana

Trịnh Nguyễn Đàm Giang biên soạn



Kigelia africana là một chi thực vật có hoa trong họ Bignoniaceae (Chùm ớt).  Loài này được (Lam.) Benth. mô tả khoa học đầu tiên năm 1849. Cây còn được gọi là Kigelia pinnata. Chi này chỉ bao gồm một loài, Kigelia africana, nguồn gốc từ châu Phi nhiệt đới, nó xuất hiện từ Eritrea và Chad về phía nam đến bắc Nam Phi, và phía tây đến Senegal và Namibia; nó mọc trong rừng rộng, dọc theo bờ sông và suối, và trong các vùng đồng bằng ngập lũ. Những cây này hợp đất phù sa ở những khu vực ngập lụt định kỳ, một nơi mà những cây khác không mọc được, và trồng tại khu chúng được bảo vệ tránh bị động vật ăn cỏ tiêu thụ trong một phần của năm để tạo cơ hội cho chúng tái sinh. Cây xúc xích phát triển nhanh trong điều kiện thích hợp có thể cao tới 20m. Cây này cũng có nhiều ở Ấn Độ. Sự phân bố của loài này chắc chắn là do con người mang hột đi trồng.
Tên chi Kigelia có nguồn gốc từ tên Bantu của Mozambique, kigeli-keia, trong khi tên cây thông thường là cây xúc xích  vì có trái cây giống như xúc xích dài và đôi khi được gọi  là cây dưa chuột. Cây có vỏ nâu, bong tróc, những cây này trưởng thành từ bốn đến sáu năm và hoa nở từ mùa đông đến đầu mùa hè. Những bông hoa (và sau đó là trái cây) treo xuống từ cành trên thân dài  (dài 2-6 mét).
 Hoa có hình chuông (tương tự như của cây tulip Phi nhưng có mầu sẫm và nhiều sáp hơn) hoa có màu da cam đến màu nâu đỏ hoặc màu xanh tía, và có thể lớn đến khoảng bốn inches (10 cm). Hoa không rũ xuống mà theo hướng vươn lên.  Hoa chỉ nở vào ban đêm có múi khó ngửi và héo tàn khi trời sáng. Những bông hoa lớn và đỏ sậm với nhụy hoa và nhị hoa màu vàng phát triển trên thân cây dài, có dây, giống như sợi dây thừng treo lơ lửng bên dưới này làm cho hoa dễ dàng tiếp cận với các loài thụ phấn chính của chúng như dơi, chim và côn trùng. Những bông hoa tạo ra một lượng lớn mật hoa để cám dỗ các loài thụ phấn, nhưng điều đó cũng khiến chúng trở thành một thức ăn cho các loài động vật khác, bao gồm cả antelopes/linh dương và baboons/khỉ đầu chó bất kể mùi hương hoa tạo ra khó chịu với con người, nhưng không đáng kể cho các loài vật thích ăn hoa.


Quả là một trái mọng gỗ từ 12 đến 39 inch (30–100 cm) dài và rộng đến bảy inch (18 cm).  Thông thường quả nặng từ 11 đến 22 pounds (5 và 10 kg) và treo xuống trên những dây cuống dài, giống như sợi dây thừng. Trái chứa nhiều hạt.



Trái cây tươi độc tính mạnh mẽ; trái cây có thể dùng được sau khi được sấy khô, rang hoặc lên men (Joffe 2003; McBurney 2004). Ở trung tâm Kenya, các loại trái cây sấy khô được sử dụng để làm một thức uống có alcohol/cồn gọi là Muratina. Coi như là một thành phần cốt lõi trong các sự kiện văn hóa ở Trung Kenya.

Cây được trồng rộng rãi như một cây cảnh trong vùng nhiệt đới cho hoa trang trí và trái cây lạ thường của nó. Vì quả to nặng và khi rơi có thể gây thương tích nghiêm trọng cho người dân và xe bị hư hại đậu dưới cây nên cây này nếu đuợc trồng trong thành phố thì cần cẩn thận khi lựa chọn địa điểm. Cây  nó có một hệ thống rễ mạnh mẽ  nên được khuyến cáo là nên trồng xa các tòa nhà và bể bơi.

 Một số loài động vật ăn trái cây tươi, nhưng trái chưa chín thì độc hại, đặc biệt với người.
Để làm trái ăn được thì cần nướng và cắt dằm chúng để ăn bột  đã nấu chín.


                                                                    Hình internet
 Hạt cũng được rang và có thể là nguồn dinh dưỡng vì chúng giàu năng lượng và chứa các axit béo 
thiết yếu.
Lá cây xúc xích cũng có một lợi ích dinh dưỡng và được so sánh với vài loại rau lá xanh có chứa các
khoáng chất như calcium, magnesium và sắt, người ta phơi khô lá để ăn.  
Về động vật thì voi và kudu ăn lá, vàcũng được sử dụng để nuôi gia súc.
Trái xúc xích rang chín là một thành phần phổ biến được sử dụng trong việc chế biến bia Châu Phi truyền thống; nó được cho là làm tăng tốc độ của quá trình lên men và cải thiện hương vị của bia.   

Trái cây và lá cây cũng được sử dụng cho nhiều mục đích y học khác nhau.
Kigelia Africana cũng được sử dụng trong một số sản phẩm chăm sóc da.
 Ở Botswana, gỗ Kigelia được sử dụng làm đòn gánh, mái chèo, v.v…
 một số quốc gia, thuốc chứa hoạt chất của Kigelia được sử dụng bên ngoài để điều trị loét, lở loét và 
giang mai. Trái cây khô được xay tán bột dùng như như là một dressing/băng đắp trong khi nước sắc vỏ
 cây được sử dụng để điều trị kiết lỵ. Nước sắc của trái cây và vỏ cây còn được dùng bằng đường uống
 cho các bệnh về dạ dày ở trẻ em.
Vì đặc tính antioxidants, chống viêm và kháng khuẩn của Kigelia, nên người địa phương đã dùng trái 
cây này như thuốc cổ truyền điều trị những điều kiện liên quan đến da như nhiễm nấm, mụn cóc, 
ngứa ngoài da và lở chốc đóng vẩy
Nói chung, còn nhiều công dụng trong mỹ phẩm và y học được quảng cáo trên báo chí và internet
 nhưng không đề cập đến ở đây.

Ghi chú.
Trên con đường Lincohn tại Miami Beach, Florida, tại City Center có một cây Kigelia rất lớn, nhìn xa 
dây rũ xuống tua tủa tựa như dây cây Tơ hồng, trái không dài như xúc xích mà chỉ tựa như trái cà tím.
 Cây đã gây chú ý cho tác giả và là đề tài cho bài biên soạn này.
Hình ảnh thuộc bộ ảnh riêng của TNĐG, trừ ba tấm chót truy cập trên internet.
 
Trịnh Nguyễn Đàm Giang







 https://en.wikipedia.org/wiki/Kigelia

Friday, November 2, 2018

Sương Lam. Song Nghiên




Sương Lam

Trên đỉnh non cao.
Sương lam tỏa khắp không gian
Len lỏi bậc gỗ
Xanh thấu trời cao

October 29, 2018.
Song Nghiên



Wednesday, October 24, 2018

Palais Garnier. The Dance. Jean-Baptiste Carpeaux. Đàm Giang

Tấm điêu khắc đá cẩm thạch The Dance của Jean-Baptiste Carpeaux tại Opera Garnier de Paris.



Đàm Giang ghi soạn.

Bức điêu khắc được biết nhiều nhất ở Palais Opéra de Paris là tấm Múa Nhảy (The Dance) tạo bởi Jean-Baptiste Carpeaux (1827-1875). Sư hiện diện của tấm điêu khắc này cũng có nhiều cam go. Carpeaux đuợc Giải thưởng của Rome về điêu khắc năm 1854. Trong trời gian lưu lại ở Ý, Carpeaux học hỏi đuợc từ Michelangelo rất nhiều và nhờ thế mà Carpeaux có được tác phẩm nổi tiếng Ugolino và những người con trai của ông ta (Ugolino and His sons). Năm 1865, Garnier mướn Carpeaux điêu khắc một tấm cho một nhóm tượng để trưng mặt tiền của nhà Hát Paris. Sau lần thứ hai đưa mô hình cho Garnier xem và được chấp thuận, Carpeaux xúc tiến thực hiện và  bức Múa nhảy (The Dance) được đặt ở bên trái của cửa vòng cung lớn phía ngoài  đối diện với tấm Lyrical Drama của Perraud. Phía bên phải của cung cửa lớn là hai bức Poetry của Jouffroy và Instrumental Music của Guillaume.

 Khi Garnier khánh thành những tấm điêu khắc mặt tiền của Palais Opéra de Paris vào tháng 7 năm 1869, thì tấm The Dance làm bằng đá cẩm thạch Echaillon đã mang lại sự bất bình, phản đối la ó của dân chúng vì bức này, với những người mẫu hoàn toàn khỏa thân đang múa nhảy cười rất vui vẻ, không thích ứng với ba bức điêu khắc kia, lại giống người ngoài đời quá làm cho phụ nữ đi xem trình diễn ở nhà Hát không thoải mái, tượng còn bị người ta đổ mực lên nữa. Garnier rất bối rối, và để chiều lòng dân Paris, ông đã muốn bỏ tấm này đi và vì Carpeaux không chịu làm tấm khác nên Garnier đã mướn Guméry tạo tấm khác. Guméry là người đã có hai tấm điêu khắc mạ vàng HarmonyPoetry trên nóc Nhà Hát Garnier. Nhưng công việc phải đình trệ vì sự sụp đổ của Đệ Nhị Đế quốc vào tháng 9 năm 1870, rồi Guméry lại qua đời vì lao phổi.



Qua nhiều lần thử thay đổi không thành công, tấm điêu khắc vẫn còn đứng nguyên tại đó cho đến năm 1964 để bảo vệ tấm điêu khắc khỏi bị  hư hoại và ô nhiễm nên tấm nguyên thủy đã được thay thế bằng một copy, và bản nguyên thủy được mang vào trưng trong Viện Bảo tàng Louvre. Đến năm 1986  thì đuợc chuyển sang Viện Bảo tàng Orsay. Vì  tấm The Dance được nhiều người chú ý và nổi tiếng nên Carpeaux đã có tạo thêm vài bản khác để bán cho những nhà bảo tàng khác hoặc nguyên tấm hoặc chỉ có vài nhân vật chính.



Tấm The Dance của Jean-Baptiste Carpeaux là một công trình điêu khắc mà người viết rất ưa chuộng, lần nào đến Paris cũng phải thăm nhìn lại tấm này,  hoặc tại Palais Opéra de Paris hay tại Viện Bảo tàng Orsay. Những khuôn mặt  và những nét mặt của các nhân vật trong tấm điêu khắc này diễn tả thật tuyệt vời. 

Đàm Giang

Hoa Dây Bông Xanh Bengal. Thunbergia Grandiflora. SVĐG

Đàm Giang biên soạn.



Cây hoa dây Bông Xanh còn có các tên: bông Bengal, cát đằngđại hoa sơn khiên ngưuđại hoa lão nha chủy (Thunbergia grandiflora Roxb, Acanthaceae). Đây là loài cây gốc từ China, India, Nepal, Indochina và Burma (Myanmar).  Nó còn mang tên cây hoa bông dây Bengal đồng hồ (Bengal Clock vine) vì nó xuất xứ từ India, và nó leo mọc cuốn vào các trụ dàn theo chiều kim đồng hồ.
Cây leo thân quấn. Lá to, chia thùy, có cuống dài, gốc hình tim. Hoa thường mọc thành chùm ở nách. Đài hình chén, mép nguyên hay hơi lượn, có lông. Tràng màu xanh tím, phía dưới dình thành ống tràng hẹp, phía trên loe rộng hình phễu và xẻ 5 thùy, trong đó có một thùy lớn nhất.






Cây bông dây Bengal mọc hoang hoặc được trồng làm cảnh, có thể ươm trồng bằng những mẩu thân.
Theo tài liệu trên internet thì cây bông dây Bengal còn có công dụng như một loài thuốc dùng thoa đắp trị rắn cắn phổ biến trong người dân. Người ta thường hái lá, dùng tươi hay phơi hoặc sấy khô làm thuốc. Hái một nắm lá bông dây tươi, bỏ cuống, rửa sạch, giã nhỏ, thêm ít nước, vắt lấy nước. Dùng nước này xoa bóp từ trên xuống dưới nơi rắn cắn chừng 5-10 phút. Lấy bã đắp lên vết cắn. Ngày làm 2 lần cho đến khi khỏi. Thường chỉ dùng 4-5 lần là có kết quả.

Friday, October 12, 2018

Strasbourg. Petite France. London Plane Tree. SVDG

Strasbourg. The Petite France. London Plane tree.
Sóng Việt Đàm Giang.
October 12, 2018.




Tại bến Quai de Turckheim (ngay cạnh cầu Ponts Couverts) có một cây đại cổ thụ London Plane già cỡ trên 200 năm. Cây này mang tên khoa học là Platanus x hispanica, họ Platanaceae. Theo tài liệu thì đó là một cây giống như cây gỗ Sung Dâu (sycamore), và được gọi là cây sycamore có lá giống lá cây phong (maple-leaved sycamore).

Platanus x hispanica là một hợp chủng do sự cấy giữa hai loại Platanus orientalisplatanus occidentalis (American sycamore) mà thành. Nó xuất hiện từ thế kỷ thứ 17 (năm 1645) tại Spain. Được biết cây này rất bền bỉ chịu được ô nhiễm,  khí hậu khó khăn khô ráo, thân cành rất mạnh và cho bóng mát tốt, nó mọc rất lớn, có thể cao đến 40m và thường được trồng trong thành phố nhất là  ở vùng đất trống rộng. Vỏ cây nâu thường tróc ra để lại thân cây có màu trắng ngà.