Monday, August 24, 2020

Thị Trấn Etretat Đáng Nhớ Của Pháp. SVĐG



Một Etretat Đáng Nhớ Của Pháp.

Sóng Việt Đàm Giang

Etretat là một thị trấn có khoảng 1,500 cư dân nằm cách Rouen không xa , trên bờ biển phía đông bắc của Normandie, thuộc khu vực Seine-Maritime, cách hải cảng Le Havre 27 km ở phía nam.


Etretat được coi như là một viên ngọc nhỏ với những mái nhà màu xanh, được che chở bởi những vách đá hùng vĩ. Những vách đá đó chính là điểm thu hút du khách đến vào mùa hè.
Etretat là một phần của bờ biển dài, toàn bộ phần bờ biển này có đặc điểm với những vách đá thiên nhiên có nguồn gốc từ đá phấn trắng. Etretat với những vách đá loại đá phấn hiện diện từ thời thượng cổ được gọi là Turoniano, có khả năng chống chịu tàn phá cao nên ít bị ảnh hưởng của soi mòn liên tục như bờ biển gần đó.
Nói về sự tàn phá của tời gian, sự soi mòn mà nước và gió đã làm trong thời xa xưa vẫn còn để lại dấu tích một vòm tại vách đá Aval và  vòm đá phấn Manneporte cao 90 mét.

Bãi biển Etretat gồm nhiều sỏi, và rất nhiều đá cuội. Giống như hầu hết các bãi biển ở Normandie, bãi này cũng bị ảnh hưởng nặng nề bởi thủy triều cao và thấp. Mỗi ngày có hai đỉnh triều lên và hai đỉnh triều xuống. Trong hai đỉnh của thủy triều xuống, nước ở xa bờ biển và bạn có thể đi bộ dưới các vách đá. Tuy nhiên vì thủy triều nước dâng lên rất nhanh nên tốt hơn là không nên đi quá xa khỏi thị trấn Etretat.  Ở gần ngay tại điểm bắt đầu đi lên vách đá Aval, gần các bậc thang dẫn đến bãi biển có một bảng ghi chi tiết thời gian thủy triều lên và xuống của cả tháng. Trong mùa hè, một hệ thống phòng ngừa cũng được thiết lập, có người quan sát.
Điểm đặc biệt của ngôi làng nhỏ Etretat là này những vách đá với vòm Amont, nằm ở phía đông-bắc, cùng vách đá vòm Aval và vòm Manneporte nằm tại tây-nam của vùng dải bờ biển của thị trấn.



Vách đá Etretat. Bạn có thể đi bộ leo lên vách đá Aval. Khi ở trên vách đá Amont, bạn có thể chọn giữa đi bộ và lái xe. Để lên đến đỉnh có một con đường khá lớn không sát biển. Đường đi lên chỉ dốc trong phần đầu tiên, sau đó sẽ thoải mái hơn. Khi bạn nhìn xung quanh, bạn sẽ được thưởng thức khung cảnh ngoạn mục của toàn bộ ngôi làng với vách đá Amont ở phía hậu cảnh.
Tiếp tục đi trên vách đá Aval và băng qua vách đá tiếp là vòm Manneporte. Từ điểm trên vòm Manneporte này, nhìn về phía ra biển, thì ta thấy có một sự hình thành đặc biệt khác là vách đá Aiguille, một tảng đá cao 70 mét có hình dạng của một tháp đá chuông kim Aiguille (Needle), gần cạnh là vòm Aval, rồi một sân golf cũng đã được xây dựng trên đỉnh vách núi Aval và xa hơn nữa là một vách đá khác mang tên Amont ở tận cuối bãi biển Etretat.
Nếu hình dung một cách dễ hiểu thì nếu đứng ở bãi biển Etretat nhìn ra biển thì bên phải là vách và vòm Amont. Bên trái là vách và vòm Aval và cây kim đá Aiguille, phiá sau vách Aval là vòm Manneporte nhưng vòm Manneporte bị khuất sau mỏm vách vòm Aval nên không thấy được.


Vách đá Amont. Đi bộ hoặc bằng ô tô cũng được. Ngoài ra, còn có con đường Avenue Damilaville lát đá dẫn đến Chapelle Notre-Dame de la Garde ở trên đỉnh.
Ngoài ra nơi này còn có Nhà thờ Notre-Dame d'Étretat, thuộc Sở Hàng hải Seine của Pháp, có từ thế kỷ 12 và 13. Nhà thờ này đã được tu sửa vào thế kỷ 19 và được xếp hạng là một di tích lịch sử. Ngay cạnh là nghĩa trang chôn cất mồ của những người lính của Commenweath đã tử trận nơi đây trong Thế Chiến I.

Vòm Manneporte. Cấu hình của "những vách đá cao bị xoi mòn trở thành những vòm kỳ lạ này được gọi là Cổng" (Maupassant, Adieu, 1884) đã tạo cho nơi này một cảnh quan khác thường. Manneporte, vòm hở lớn nhất trong số ba vòm hở trong vách đá, là “một vòm hầm khổng lồ mà một chiếc tầu nhỏ có thể đi xuyên qua được” (Maupassant, Guillemot Rock, 1882).





Những danh nhân nghệ sĩ một thời gắn bó với Etretat

 Guy de Maupassant (1850-1893) là một nhà văn chuyên viết chuyện ngắn nổi tiếng của Pháp .
Hoạt động văn chương của ông bắt đầu khoảng giữa thời gian từ 1871-1880, bắt đầu bằng những bài thơ. Ông chịu ảnh hưởng sâu sắc của người thầy, người cha đỡ đầu Gustave Flaubert, và ông bắt đầu quay sang khuynh hướng hiện thực và tiếp nhận những nguyên lý nghệ thuật của Flaubert.Vì sinh trưởng tại vùng Normandie nên ông rất gắn bó vời vùng đất quê hương ông.
Từ năm 1880-1891, ông đã sáng tác khoảng 300 truyện ngắn, trong đó có rất nhiều truyện xuất sắc như: Người đã khuất, Món tư trang, Cái thùng con, Con quỷ, Đi ngựa, Người đàn bà làm nghề độn ghế... Và 6 tiểu thuyết: Une Vie (Một cuộc đời, 1883), Bel Ami (Ông bạn đẹp, 1885), Mon Oriol (Oriol của tôi, 1887), Pierre et Jean (1888), Fort comme la Mort (Mạnh như cái chết, 1889), Notre Coeur (Lòng ta, 1889).
Claude Monet (1840-1926). Vào mùa đông năm 1868-1869, họa sĩ  trường phái ấn tượng Claude Monet đã chú ý và đến thăm Etretat ở vùng Caux của Normandie. Sau đó, ông trở lại đó hàng năm trong khoảng thời gian từ 1883 đến 1886. Giống như một số họa sĩ khác, đặc biệt là Gustave Courbet, Monet bị quyến rũ bởi những nét đẹp như tranh vẽ của nơi này, và đã lấy cảm hứng từ nó cho cỡ năm mươi bức tranh của ông.


Ngoài rất nhiều bức họa vẽ vách đá Aval, ông còn vẽ những cảnh đẹp thiên nhiên gần quanh đó. Vòm đá Manneporte chỉ xuất hiện trong năm bức tranh của Monet (1883-1885).
Cũng trong thời gian này, Monet thường xuyên gặp gỡ Maupassant đang sống ở Etretat. Nhà văn Maupassant đã chọn nơi này làm bối cảnh cho một số truyện ngắn của mình. Cảm xúc của Maupassant, được thể hiện trong suốt các mô tả của ông, gần gũi với cảm xúc của người họa sĩ. Có thể nói  khung cảnh của những vách đá này biểu hiệu cho mối liên hệ chặt chẽ giữa nghệ thuật và văn học trong thế kỷ 19 và sự gắn bó của Monet đối với bờ biển Normandie.  Nếu ta theo dõi tiến trình vẽ của Monet sẽ nhận thấy sau một loạt hình vẽ Etretat (1883-1886), là một loạt những tranh của ông tại một số địa điểm ở Pháp (và ngay cả ở Anh quốc) trong những thập niên tiếp theo như Haystacks (1884-1893), Grainstacks (1888-1891/30 paintings), Rouen Cathedral paintings (1892-1894/23 paintings), v.v…



Claude Monet vẽ The Manneporte (Etretat) vào năm 1883. Manneporte, một vòm tự nhiên khổng lồ nhô ra biển trên bãi biển Etretat, đã thu hút sự chú ý của Monet trong thời gian ông ở Bờ biển vào những tháng đầu năm 1883.

Monet đã dành phần lớn thời gian của tháng 2 năm 1883 tại Étretat, một làng chài và khu nghỉ mát trên bờ biển Normandy. Ông đã vẽ hai mươi quang cảnh bãi biển và ba vách đá đặc biệt trong khu vực: Aval, Amont và Manneporte. Ánh sáng mặt trời chiếu vào vách đá có hiệu ứng trung hòa vật chất cho phép nghệ sĩ diễn tả được màu sắc và độ sáng kỳ diệu của vách đá theo dòng thời gian của ngày. Hầu hết các du khách đến thăm đã bị thu hút bởi tảng đá như một kỳ quan thiên nhiên. Trái lại, Monet tập trung nhận thức vào sự thay đổi màu sắc của vách đá vào những thời điểm khác nhau trong ngày.
Trong những bức tranh vẽ vách Aval, chỉ có một tấm duy nhất vẽ có hình mặt lặn (Etretat:Sunset). Bức họa này gây nhiều thử thách về vị trí và ngày ông vẽ bức họa. Và một đội nghiên cứu thiên học và vật lý thuộc Đại học BangTexas do Giáo sư Donald Olson hướng dẫn đã cho kết luân sau những tìm tòi lâu dài, đo tọa độ mặt trời lặn, vị trí và khoảng cách v.v… rằng bức họa Hoàng hôn tại  Etretat  đuợc Monet quan sát mặt trời lặn ngày 5 tháng 2 năm 1883 vào lúc 4:64 chiều, giờ địa phương.


Đúng ngày giờ đó hay không có lẽ không quan trọng với người đứng ngắm bức họa; cảm được bức họa mới là điều đáng kể.

Maurice Leblanc. Maurice Marie Émile Leblanc ( 1864-1941) là một tiểu thuyết gia và nhà văn viết truyện ngắn người Pháp, chủ yếu được biết đến với tư cách là người sáng tạo ra tên trộm và thám tử hư cấu Arsène Lupin , thường được mô tả như một đối tác của Pháp với tác phẩm Sherlock Holmes của Arthur Conan Doyle.
Leblanc sinh trưởng tại Rouen, Normandie, ông cũng từng chịu ảnh hưởng của Gustave Flaubert và  Maupassant, đã từng thử viết chuyện ngắn nhưng không mấy thành công, và nhiều thể loại như tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết trinh thám, tiểu thuyết phiêu lưu và khoa học huyễn tưởng.
Leblanc lúc đầu chỉ được coi là một nhà văn viết truyện ngắn cho các tạp chí định kỳ khác nhau của Pháp cho đến khi truyện Arsène Lupin đầu tiên xuất hiện trong một loạt truyện ngắn được đăng nhiều kỳ trên tạp chí Je sais tout, bắt đầu từ số 6, ngày 15 tháng 7 năm 1905 được tán thưởng nhiệt liệt và bất ngờ Leblanc trở nên thành công và nổi tiếng. Tổng cộng, Leblanc đã viết 21 tiểu thuyết Lupin hoặc tuyển tập truyện ngắn.  Giống như Conan Doyle, người thường tỏ ra mặc cảm hoặc bị cản trở bởi sự thành công của Sherlock Holmes và dường như coi thành công của mình trong lĩnh vực tiểu thuyết trinh thám là một thứ ngăn cản tham vọng văn học "đáng trọng" hơn của mình, Leblanc cũng tỏ ra bực bội với thành công của Lupin. Nhiều lần, Leblanc đã cố gắng tạo ra các nhân vật khác nhưng không thành công, cuối cùng Leblanc đã hoàn toàn hợp nhất viết chuyệnvề với Lupin. Ông tiếp tục viết truyện Lupin vào tận những năm 1930.

Nhà văn và nhà báo Maurice Leblanc là người con của xứ sở Etretat, nay vẫn còn ngôi nhà của ông tên là Le Clos Lupin, lấy tên từ nhân vật tiểu thuyết trinh thám Arsène Lupin le Gentleman Cambrioleur. Nay Etretat vẫn tổ chức chuyến đi 7 chặng từ Le Clos Lupin đi khắp Etretat để cùng khám phá với tác giả những bí mật của nhà trinh thám Arsène Lupin.



Đây là ngôi nhà nơi nhà văn Maurice Leblanc đã sống và viết tiểu thuyết về "Robin Hood người Pháp" Arsene Lupin
Bạn có thể nhìn thấy ngôi nhà và khu vườn được chăm sóc cẩn thận của nó trên đường đi từ nơi đậu xe lớn nhất đến trung tâm thị trấn, chỉ cần để ý các bảng chỉ dẫn. Ngôi nhà với hình dạng khác thường trông cũng khá bí ẩn.

Gustave Courbet (1819-1877).
Etretat đã thu hút các họa sĩ từ đầu thế kỷ 19, được vẽ bởi sự trong lành của không khí và chất lượng của ánh sáng. Vào mùa hè năm 1869, Gustave Courbet  đến thị trấn Norman nhỏ bé này. Ông ở trong một ngôi nhà ven biển, nằm dựa vào vách đá bên trái vách Aval  mà ông đã vẽ đi vẽ lại nhiều lần. Phiên bản thành công nhất của ông là bức họa Vách đá Etretat sau cơn bão.
Trong khung cảnh thuần khiết này, Không một  bóng người, Courbet cân bằng tuyệt vời giữa đất và đá, bầu trời và biển cả. Ông đã làm cho từng yếu tố tự nhiên gần như có thể sờ thấy được. Sự trong lành của không khí và ánh sáng lấp ló sau cơn mưa được thu hút một cách tuyệt vời. Nhà phê bình Castagnary, một người bạn của Courbet và là một người tin tưởng chắc chắn vào chủ nghĩa hiện thực, đã nói về không khí tự do, vui vẻ luân chuyển trong bức tranh và bao trùm các chi tiết đã làm cho ông đột nhiên hiểu được sự ngưỡng mộ mà những người theo trường phái Ấn tượng tương lai đang thực hiện".



Courbet đã gửi Bức tranh Vách đá Etretat sau cơn bão và Biển bão đến Salon năm 1870. Hai bức tranh sơn dầu, được vẽ cùng thời điểm, tạo nên một cuộc đối thoại như thể chúng đang mô tả các giai đoạn liên tiếp của cùng một hiện tượng. Những lời khen ngợi mà họ thu hút được tại Salon đã củng cố danh tiếng của Courbet và khiến ông trở thành một trong những nhân vật hàng đầu trong làng nghệ thuật cùng thời.

Tạm kết.
Etretat với những vách đá hùng vĩ đứng sừng sững phơi cùng trời đất, biển cả, giông bão, gió táp, ngàn đời vẫn còn hiện hữu là những di tích lịch sử của cả một quá khứ bí ẩn trong vũ trụ không gian. Và sự phối hợp văn học, nghệ thuật hội họa trong bối cảnh Etretat đã và sẽ còn được nhắc đến mãi trong lịch sử nhân gian.

SV Đàm Giang.
August 23, 2020.

Hình ảnh sưu tầm trên Internet.
https://en.wikipedia.org/wiki/Maurice_Leblanc

Thursday, August 20, 2020

Places Des Vosges. Paris. France. SVDG.




Quảng Trường  Place desVosges.
 Paris. Pháp.

Sóng Việt Đàm Giang

Place des Vosges (hay Place Royale), một trong những vườn xanh ở trung tâm Paris, là quảng trường cổ nhất Paris nằm giữa quận 3 và 4, trong khu Marais, với công viên được bao quanh bởi những ngôi nhà từ thế kỷ XVII.




      
Được xây dựng dưới thời vua Henri IV từ năm 1605 đến năm 1612, nằm trong trung tâm khu phố đắt đỏ của thế kỉ XVII, XVIII. Quảng trường có hình vuông vức; ở giữa quảng trường có tượng của vua Louis XIII cưỡi ngựa. Tượng do Jean-Pierre Cortot và Charles Dupaty dựng nên vào năm 1825. Và nơi này cũng được gọi là quảng trường Louis XIII.


Vua Henri IV ra lệnh cho xây cất đối xứng theo cùng một thiết kế: mặt tiền được làm bằng 
gạch đỏ với các hàng nêm đá, mái đá dốc đứng và rải rác với các cửa sổ nhỏ, và các cung
đường uốn lượn chạy suốt toàn bộ tầng trệt, nối liền tất cả gian hàng. Những cung đường 
hành lang này được sở hữu hay thuê  bởi các phòng trưng bày nghệ thuật thượng lưu, cửa 
hàng đồ cổ đắt tiền và các quán cà phê.
Tất cả kiến trúc đồng nhất, chỉ có hai trường hợp ngoại lệ có kiến trúc khác thường: 
Tòa của Vua  (Pavillion du Roi) ở phía Nam, được cân bằng bởi Tòa Hoàng hậu (Pavillion
 de la Reine) ở phía Bắc của quảng trường. Cả hai tòa nhà đều cao hơn một tầng so với
 phần còn lại của các toà hàng khác của quảng trường. Tuy nhiên Nhà vua lẫn Nữ hoàng
 đều không bao giờ ở đó. Nhân viên cai quản của Vua, từng sống trong một tòa bên cạnh
 tòa nhà của vua.
 
   
Một chút lịch sử

Trước khi quảng trường được xây dựng vào đầu thế kỷ 17, thì một khách sạn nổi tiếng mang tên Hôtel de Tournelles, có từ năm 1388, đã hiện diện tại địa điểm này. Dinh thự này đã bị hoàng gia trưng dụng và đuợc coi như một trong những nơi cư trú của hoàng gia. Chính tại đó, Vua Henri II đã chết trong đau đớn, sau khi bị thương trong một cuộc  đấu giáo jousting. Nữ hoàng Catherine de Medici rất ghét Hotel Tournelles và bà đã tìm đủ mọi cách để phá hủy tòa nhà và chuyển gia đình hoàng gia đến Louvre.
Con rể của Catherine de Medici là Vua Henri IV, Henri IV đã giao việc xây dựng quảng trường vào năm 1605 cho kiến ​​trúc sư Louis Métezeau. Nhưng Henri IV bị ám sát bởi một kẻ cuồng tín vào năm 1610 và không thấy đuợc công trình tại đây của mình. Vua Louis XIII, con trai 11 tuổi của Henri IV nối nghiệp cha, đã tham dự lễ khánh thành Place Royale mới vào năm 1612.
Năm 1639, Đức Hồng Y Richelieu dựng một bức tượng đồng vua Louis XIII cưỡi ngựa ở trung tâm quảng trường. Bức tượng đã bị phá hủy vào tháng tám năm 1792, và sau cùng được thay thế bằng một bản sao mới vào năm 1825.
Quảng trường được Napoleon đặt tên hiện tại Place Des Vosges vào năm 1800, vì muốn kỷ niệm tỉnh này là tỉnh đóng thuế đầu tiên cho chính phủ Pháp sau khi Cách mạng thành công năm 1789
Nằm trong Place des Vosges trên quảng trường Louis XIII, bốn góc của quảng trường là bốn đài phun nước giống hệt nhau, do kiến trúc sư Jean-Francois Mesnager vẽ kiểu và nhà điêu khắc Jean - Pierre Cortot kiến tạo. Nó không có tên riêng mà chỉ đuợc gọi chung bằng địa điểm như đông-bắc, đông-nam, tây-nam và tây-bắc.
Trong một hành lang của dãy nhà bao quanh quảng trường có một khu thương mại dẫn đến căn nhà của Victor Hugo, là nơi ông đã sống 16 năm từ 1832 đến 1848. Sau đó, ngôi nhà được chuyển thành bảo tàng cho du khách đến tham quan.Victor Hugo là nhà thơ, nhà văn và nhà soạn kịch thuộc chủ nghĩa lãng mạn.
 (*)

 (*)
                                                   
Nhà Victor Hugo, tọa lạc tại khách sạn Hôtel de Rohan- Guemenee (số 6), ở Place des Vosges,
 là một bảo tàng dành riêng cho nghệ sĩ và nhà văn người Pháp. Bảo tàng này trưng bày bộ 
sưu tập các bức vẽ cá nhân, sách, chân dung và đồ trong nhà của Victor Hugo.
Victor Hugo tác giả của tập thơ Contemplations (1856), cuốn tiểu thuyết Những kẻ khốn cùng 
(1862), sống ở tầng hai từ năm 1832 đến 1848, một năm sau khi cuốn sách Nhà thờ Đức Bà 
của Paris (hay Chàng Gù Nhà thờ Đức Bà) được xuất bản(1831), và trước khi ông bị lưu đày
 đến đảo Jersey rồi Guernsey (1851-1870). 

Hình ảnh ông khi đã trọng tuổi, nơi chôn cất ông tại Pantheon cùng nơi ông sống 16 năm 
Place des Vosges, Paris, được hiện diện trên banknote 5 quan Pháp mới vào năm 1959. 
 

 
                                                Hình từ worldbanknotescoin (*)

Sóng Việt Đàm Giang biên soạn.
Photo Đàm Giang.
(*) Hình Internet.
June 20, 2020.

Wednesday, August 19, 2020

Ý Niệm Về Hang Động của Plato. SVĐG.




Ý Niệm Về Cái Hang Động của Plato.

Câu chuyện về hang động, hay Hang Plato, được đưa ra bởi nhà triết học Hy Lạp Plato trong tác phẩm Cộng hòa (c. 375 BC) của ông (514a- 520a) để so sánh "tác động của giáo dục và sự thiếu sót đối với bản chất của con người". Chuyện được Plato viết như một cuộc đối thoại giữa Glaucon, anh của Plato, và ông thầy Socrates. Câu chuyện được trình bày theo sự tương tự của mặt trời và sự tương tự của dòng chia . Cả hai đều  đặc biệt liên quan đến biện chứng (dialect) ở cuối Sách VII và VIII.

Trong chuyện Plato để Socrates mô tả một nhóm người đã bị xiềng xích vào tường của một hang động suốt cuộc đời của họ, đối mặt với một bức tường. Mọi người nhìn những cái bóng được chiếu trên tường từ những vật thể đi qua trước ngọn lửa phía sau họ, và đặt tên cho những cái bóng này. Bóng tối là thực tế của các tù nhân.


Socrates giải thích rằng khi một triết gia giống như một tù nhân được giải thoát khỏi 
hang động và hiểu rằng bóng tối trên tường hoàn toàn không phải là thực tế, vì người
 thoát khỏi tù này có thể cảm nhận được hình dạng thực của thực tế chứ không phải là
 thực tế được tạo ra từ các bóng nhìn thấy bởi các tù nhân. Các tù nhân của nơi này qua 
điều kiện hóa thậm chí không muốn rời khỏi nhà tù của họ, vì họ không biết cuộc sống
 nào tốt hơn. Nếu các tù nhân tìm được cách phá vỡ sự ràng buộc của họ vào một ngày 
nào đó, và khám phá ra rằng thực tế của họ không phải là những gì họ nghĩ như thế. 
Họ sẽ phát hiện ra mặt trời, mà Plato sử dụng như một sự tương tự cho ngọn lửa, mà 
con người không thể nhìn thấy phía sau. Giống như ngọn lửa chiếu ánh sáng vào các
 bức tường của hang động, tình trạng của con người mãi mãi bị ràng buộc với những
 ấn tượng nhận được thông qua các giác quan. Khi những cách giải thích này (hoặc theo
 trực giác) bị coi như là một sự xuyên tạc vô lý của thực tế, chúng ta không thể thoát 
khỏi sự ràng buộc của tình trạng con người của chúng ta. Tuy nhiên, nếu chúng ta thoát
 khỏi sự trói buộc đó một cách kỳ diệu, chúng ta sẽ tìm thấy một thế giới mà chúng ta
 không thể hiểu được, đối với một người chưa bao giờ nhìn thấy mặt trời thì không thể 
hiểu được mặt trời. Nói cách khác, chúng ta sẽ gặp một "cõi" khác, một nơi không thể 
hiểu được bởi vì về mặt lý thuyết, đó là nguồn gốc của một thực tại cao hơn so với cái
 mà chúng ta đã biết; đó là lãnh địa của Mẫu mực (Form) thuần túy, thực tế thuần túy.

Câu chuyện Cái Hang của Plato chứa nhiều hình thức tượng trưng được sử dụng để hướng dẫn người đọc về bản chất của nhận thức. Cái hang động đại diện cho thực tế vật lý bề ngoài. Nó cũng đại diện cho sự thiếu hiểu biết, vì những người trong hang sống chấp nhận những gì họ nhìn thấy theo mệnh lệnh tạo nên. Sự thiếu hiểu biết được thể hiện rõ hơn bởi bóng tối nhấn chìm, họ không thể biết được các vật thể thực sự tạo thành bóng tối, khiến họ tin rằng bóng tối là hình dạng thực sự của các vật thể. Xiềng xích ngăn tù nhân rời khỏi hang cho thấy rằng họ bị mắc kẹt trong sự thiếu hiểu biết, vì các chuỗi đang ngăn họ tìm hiểu sự thật. Những cái bóng chiếu trên tường của hang động đại diện cho sự thật hời hợt, đó là ảo ảnh mà các tù nhân nhìn thấy trong hang. Người tù được giải thoát đại diện cho những người hiểu rằng thế giới vật chất đó chỉ là một cái bóng của sự thật, và mặt trời đang làm sáng mắt người tù nhân là đại diện cho sự thật cao hơn của ý tưởng. Ánh sáng tiếp tục đại diện cho trí tuệ (wisdom), vì ngay cả ánh sáng dù mờ nhạt vào được trong hang cũng đủ cho phép các tù nhân biết hình dạng.
Socrates cho rằng câu chuyện ngụ ngôn này có thể đi đôi với sự tương tự của mặt trời và sự tương tự của dòng phân chia.
Nhiều học giả khác nhau đã tranh luận về khả năng có mối liên hệ giữa công trình trong truyện ngụ ngôn và hang động, và công trình do Plato thực hiện khi xem xét sự tương đồng của đường phân chia và sự tương tự của mặt trời.

Dòng chia là một lý thuyết được trình bày trong tác phẩm Cộng hòa của Plato. Điều này được cho thấy qua một cuộc đối thoại đưa ra giữa Socrates và Glaucon. Trong đó họ khám phá khả năng của một thế giới hữu hình và thế giới hiểu được.
 Với thế giới hữu hình bao gồm các vật phẩm như bóng và phản xạ (hiển thị là AB) sau đó nâng lên chính vật phẩm (hiển thị là BC) trong khi thế giới hiểu được bao gồm lý luận toán học (hiển thị bằng CD) và hiểu biết triết học (được hiển thị bởi DE) .


Đường phân chia - (AC) thường được coi là đại diện cho thế giới hữu hình và (CE) là đại diện cho thế giới hiểu biết.

Nhiều người coi đây là một lời giải thích cho cách mà tù nhân trong câu chuyện ngụ ngôn về hang động đi qua hành trình. Đầu tiên trong tù tù nhân có thể nhìn thấy với bóng tối như những cái trên tường. Socrates cho rằng bóng tối là thực tế cho các tù nhân vì họ chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ điều gì khác; họ không nhận ra rằng những gì họ nhìn thấy là bóng của các vật thể trước ngọn lửa, ít hơn là những vật thể này được lấy cảm hứng từ những thứ có thật bên ngoài hang động mà họ không nhìn thấy sau đó nhận ra vật lý bằng sự hiểu biết về các khái niệm chẳng hạn như cây được tách ra khỏi bóng của nó. Nó bước vào thế giới hiểu biết khi tù nhân nhìn vào mặt trời. Dẫn đến sự tương tự của mặt trời.

Sự tương tự của mặt trời đề cập đến khoảnh khắc trong cuốn sách VI (book VI) trong đó Socrates sau khi được Glaucon thúc giục để xác định mục đích tốt đẹp thay vào đó, một sự tương tự thông qua một "đứa trẻ của sự tốt lành". Socrates tiết lộ "đứa trẻ của sự tốt lành" này là mặt trời, giả định  rằng giống như mặt trời chiếu sáng, ban cho người khả năng nhìn và được nhìn thấy bằng mắt qua ánh sáng để cho ý tưởng về sự tốt lành chiếu sáng sự hiểu biết với sự thật. Từ đó dẫn đến một số học giả tin rằng điều này đã tạo ra một kết nối của mặt trời và thế giới hiểu biết trong lãnh vực của câu chuyện ngụ ngôn về hang động.

                                                   Hình Internet

Với những du khách đã có dịp viếng Athens, thăm Acropolis, đồi Filopappou gần đó, thì có thể có cơ hội được dẫn đi xem một số hang đá khắc thẳng vào đồi, đó là những di tích còn lại của một thời văn minh cổ. Những hang này không nhiều chỉ là một bên có 5 cửa hang, và bên kia có 3 cửa hang. Nơi đó đuợc cho biết là một nhà tù của Athens cổ đại. Tấm biển đề  Nhà tù Socrates chỉ là một tượng trưng mà không phải là nơi Socrates đã bị ép uống thuốc độc và tử vong.

Đàm Giang tổng hợp, chuyển dịch và biên soạn.
August 16, 2020