Monday, June 25, 2012
Thăm Paris
Thăm Paris
Nhà thơ hứng thú viết
Kể chuyện thăm Paris
Cùng đôi lời dặn dò
Người Paris có đọc
Đừng cười khách lãng du
Mười lăm năm Paris
Quận mười ba cổ tích
Tôi thuôc lòng con đuờng
Hết đi rồi đi lại về
Đường metro ngun ngút
Tất bật chạy lên xuống
Làm việc mệt không nghỉ
Nào thấy đâu Paris!
Ba mươi năm ngoại ô
Cũng vẫn chạy metro
Không thấy mặt trời mọc
Hoàng hôn cũng ngủ yên
Đọc Paris Thơ viết
Những nơi đã đi thăm
Những chiếc cầu đáng yêu
Những dinh thư đồ sộ
Những bảo tàng huy hoàng
Bâng khuâng tôi tự hỏi
Bốn mươi lăm năm trôi
Sao chưa thấy Paris?
Paris có gì lạ?
Còn Áo lụa Hà đông?
Ngô Thụy Miên, Nguyên Sa
Còn đa tình lãng mạn
Ga Lyon ra sao?
Đèn vàng còn hay không?
Tôi không biết chi nhiều
Thôi dành cho khách lạ
Thăm thành phố lần nữa
Tạt Latin Quartier
Quán café Sorbonne
Khu đại học thân ái
Cho kỷ niệm trở về
Bềnh bồng theo như mây…
19 Juillet 2011
Esviezie (SVG)
Mượn bản nhạc Paris có gì lạ không em, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên phổ nhạc thơ Nguyên Sa, nghệ sĩ Phạm Ngọc Lân đàn và hát, để làm đề tựa cho video/youtube mang hình một số địa danh lịch sử và bảo tàng viện của thành phố Paris. Mời nghe nhạc/xem tại link:
http://www.youtube.com/watch?v=XEGx0SJvkmI&feature=em-share_video_user
SVĐG
Thursday, May 31, 2012
Nhớ
Nhớ!
Nhớ nhung triền miên
Nhớ nhung lặng thinh
Tình xa trống vắng
Nhớ nhung hàng đêm!
Nhớ! Nhớ em hoài mong
Âm thầm ngóng trông
Lá thư nắng sớm
Từ phương trời đông
Nhớ! Nhớ như vời mưa
Rả rích lưa thưa
Thì thầm khúc khích
Có nhau ngày xưa
Nhớ! Nhớ đêm thu nào
Tình mình xôn xao
Bập bùng ánh lửa
Lò sưởi lách tách
Vòng ôm khít khao
Nhớ! Nhớ em day dứt
Mất ngủ thao thức
Trời cao có biết
Người tôi yêu đâu?
JSong
31 May 2012
Wednesday, May 30, 2012
Cây Bồ đề Phật Giáo và Cây Lâm Vồ (Moraceae)
Cây Bồ Đề Phật Giáo và Cây Lâm Vồ
Sóng Việt Đàm Giang
Trên nhiều đường phố ở nhiều tỉnh thành khác nhau người ta thường thấy một loại cây xanh trồng dọc bên đường . Cây này nhìn rất giống cây Bồ đề Phật giáo, và mang một tên không mấy quen thuộc là cây lâm vồ.
Cây lâm vồ và cây Bồ đề Phật giáo đều thuộc chi Sung Ficus (sung, si, sộp, gừa, đa...), gia đình Dâu tằm (Moraceaea).
Family Moraceaea có chừng 600-800 loài khác nhau.
Một số quen thuộc gồm:
cây sanh: ficus retusa
cây gừa: ficus microcarpa
cây sộp: ficus pisocarpa
cây sung: ficus racemona, glomerata
cây đa lâm vồ: ficus rumphii
đa búp đỏ: ficus elastica
đa rễ: ficus macrophylla (strangler fig)
đa lá tròn : ficus benghalensis
sung kiểng: ficus benjamina
Bồ đề Phật giáo: ficus religiosa
Sự lầm lẫn giữa cây bồ đề Phật giáo và cây giống cây bồ đề cũng dễ hiểu vì cả hai cây có lá từa tựa như nhau.
Sự phân biệt giữa cây lâm vồ và cây Bồ đề Phật giáo cũng không khó khăn lắm dưới mắt nhìn của những người quen thuộc với cây cỏ.
Cả hai loại đều thuộc chi Sung (ficus), họ Dâu tằm (Moraceaea)
Cây Bồ đề Phật giáo (ficus religiosa) có chồi ngọn ngắn, cuống lá dài, đáy lá nhọn, mép lá hơn gơn sóng, đỉnh là có đuôi nhọn kéo dài (hình 1)
Cây bồ đề đường phố (cây sung/cây lâm vồ/ficus rumphii): Cây gỗ lớn, có nhánh to, vỏ nhẵn, môc trắng. Lá hình tam giác cụt, có khi hơi thót lại ở cuống, mép không gợn sóng, có đỉnh mũi nhọn hình tam giác, không có đuôi kéo dài, cuống lá ngắn hay dài rất mảnh. Quả sung xếp từng cặp trên nhánh có lá, không có cuống, hình cầu, khi chín màu đỏ sẫm. (hình 2)
Cây đa/sung/ bồ đề giả này trồng rất nhiều tại nhiều nơi, nhiều tỉnh bên lề đuờng vì cây lá xanh và cho nhiều bóng mát.
Đặc biệt chi Sung/Ficus này có nhiều loại được dùng trong nghệ thuật bonsai (như ficus retusa, ficus macrophylla, ficus benghalensis, ficus rumphii, và ngay cả ficus religiosa...)
Sóng Việt Đàm Giang
26 May 2012
(hình internet)
Ngò Om và Ngổ Trâu
Sóng Việt Đàm Giang
Ngổ, ngò om hay ngò ôm (limnophila aromatica) là một loại rau gia vị sống tại vùng khí hậu nhiệt đới thuộc họ Mã đề. Các tỉnh miền Nam gọi là rau om hay rau ôm. Tại các tỉnh miền trung, rau này còn được gọi là ngổ hương. Các tên gọi khác ngổ thơm, ngổ om, mò om hoặc ngổ điếc
Ngổ là cây thân thảo, mọc bò, thân rỗng giòn, dài 20 – 30 cm, có nhiều lông, mùi rất thơm, lá nhẵn, mọc đối, không cuống, hơi ôm thân. Phần lá gần thân nhỏ lại, mép hơi có răng cưa thưa. Hoa gần như không cuống mọc đơn độc ở nách lá.
Ngổ mọc nhiều nhất trong vùng Đông Nam Á, nơi chúng phát triển dễ dàng trong môi trường nóng và nhiều nước, như trong ruộng lúa. Chúng mọc nổi trên mặt nước nhưng cũng có thể trồng trên cạn nếu tưới nhiều nước; khi đó rau mọc thành bụi. Rau này được sử dụng nhiều trong ẩm thực và cũng có thể dùng như một cây cảnh trong hồ cá cảnh hoặc bể thủy sinh.
Ngổ từng được phân loại vào họ Hoa mõm sói)- Scrophulariaceae.
Ngổ dễ bị lẫn với ngổ trâu (enhydra fluctuans Lour.) mà miền Nam gọi là rau ngổ hay ngổ cộng thuộc họ Cúc (Compositae), là loại cây sống nổi hay ngập nước.
Rau Ngổ Trâu (Rau Ngổ)
Rau ngổ, Ngổ trâu, Ngổ đất, Ngổ hương, Cúc nước, Phak hom pom - Enydra fluctuans Lour, thuộc họ Cúc - Asteraceae.
Mô tả: Cây thảo sống nổi hay ngập nước, dài hàng mét, phân cành nhiều, có đốt. Thân hình trụ, có rãnh. Lá mọc đối, không cuống, gốc hơi rộng và ôm lấy thân, mép có răng cưa. Cụm hoa dạng đầu, không cuống bao bởi hai lá bắc hình trái xoan tù, màu lục. Hoa cái và hoa lưỡng tính đều sinh sản. Quả bế không có mào lông.
Cây ra hoa từ tháng 11-12 đến tháng 4 năm sau.
Bộ phận dùng: Toàn cây - Herba Enydrae Fluctuantis.
Nơi sống và thu hái: Loài phân bố ở Ấn Ðộ, Nam Trung Quốc, Việt Nam tới Inđônêxia. Ở nước ta cây mọc hoang trong các ao hồ, mương máng và cũng được trồng làm rau ăn sống hay nấu canh.
Ngổ trâu (Enydra fluctuans Lour.[1]), còn gọi là ngổ đắng, ngổ đất, ngổ thơm, ngổ hương, cúc nước, cần nước, miền Nam gọi là rau ngổ hoặc ngổ cộng[2], là loài cây thuốc thuộc họ Cúc.
Ngổ trâu mọc dưới nước, sống nổi hoặc ngập nước, phân cành nhiều, có mắt. Lá dài, không cuống, mọc đối hay từng ba cái một; phiến hẹp, nhọn, bìa có răng thưa. Thân dài hàng mét, thân hình trụ nhẵn không lông, phân cành nhiều, có mắt, không lông. Lá ngổ trâu mọc đối, không cuống, phía dưới ôm vào thân, mép có răng cưa, dài khoảng 5 cm, rộng 6–10 mm. Cụm hoa hình đầu, không cuống, hoa mọc ở nách lá, hay ngọn, có màu trắng hoặc lục nhạt; 4 lá bắc hình trái xoan. Toàn hoa ống, hoa ngoài là hoa cái hình thìa lìa, có tràng và chia 3 thùy, hoa trong lưỡng tính, hình ống có tràng hoa xẻ 5 răng. Nhị 5, bao phấn có tai nhọn và ngắn. Bầu hình trụ cong. Quả bế không mào lông.
Ngổ trâu mọc nhiều ở các ao hồ tại Việt Nam. Ngoài ra còn thấy có ở Ấn Độ, Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc.
Ngổ trâu dễ bị lẫn với ngổ (limnophila aromatica) mà miền Nam gọi là ngò om. So với ngò om, thân ngổ trâu to cao hơn, mùi ít hăng hơn, ít tinh dầu hơn. Ngổ trâu không dùng làm gia vị kèm theo rau mùi, húng quế, trong các món canh chua như ngò om mà dùng để xào với thịt bò hay tép, ăn kèm mắm kho, lươn um.
Ghi chú. Tài liệu trên trích từ vi-wikipedia
Lời bàn phía dưới
(Sóng Việt Đàm Giang)
Rau om bán tại tiệm bán thực phẩm thường là loại ngò om (limnophila aromatic)
Hai loại có thể phân biệt được do nhìn vào hình dạng lá
Ngò Om (limnophila aromatica) là cây thân thảo, mọc bò, thân rỗng giòn, dài 20 – 30 cm, có nhiều lông, mùi rất thơm, lá nhẵn, mọc đối, không cuống, hơi ôm thân. Phần lá gần thân nhỏ lại, mép hơi có răng cưa thưa.
Ngổ (ehydra fluctuans): Cây thảo sống nổi hay ngập nước, dài hàng mét, phân cành nhiều, có đốt. Thân hình trụ, có rãnh. Lá mọc đối, không cuống, gốc hơi rộng và ôm lấy thân, mép có răng cưa.
Như vậy: nếu lá hình thon lại khi gần thân, mép hơi có răng cưa thì đó là rau ngò om (ngổ thơm)
Lá thon dài, không cuống, phần gắn vào thân hơi rộng thì đó là rau ngổ.
Xin xem hình đính kèm.
Sóng Việt Đàm Giang
Friday, May 25, 2012
Thơ: Chẳng Dấu!
Chẳng Dấu!
Chẳng dấu anh đâu…vẫn ngóng tìm
Một cánh thư xanh tựa cánh chim
Gửi đến từ xa xôi ngàn dặm
Nôn nao như hội… mở trái tim
Chẳng dấu anh đâu…vẫn hát thầm
Bài ca tình hỡi quyện thanh âm
Kể chuyện cuộc tình đầy nhung nhớ
Ươm hạt dưới trăng …chờ nẩy mầm
Chẳng dấu anh đâu…vẫn làm thơ
Đêm mưa lụt ấy chuốc ngẩn ngơ
Tháng sáu ngày đó mình tíu tít
Mùa xuân năm nay…chợt bơ vơ
Chẳng dấu anh đâu…
vẫn …
Sóng Việt
25 May 2012
Wednesday, May 23, 2012
Duyên Thương dich thơ HXH: Đánh Đu
Dịch Thơ Hồ Xuân Huơng
From Sóng Việt Đàm Giang
Introduction.
About Ho Xuan Huong
"Ho Xuan Huong was born at the end of the second Le Dynasty (1592-1788), a period of calamity and social disintegration. By the end of the Le period, the Confucian social order had calcified and was crumbling. In the North, the powerful Trinh clan controlled the Le kings and their court at present-day Hanoi. The Trinh warred with the Nguyen clan whose southern Hue court was aided by Portuguese arms and French troops recruited by colonial missionaries. Finally, adding to decades of grim chaos, in 1771 three brothers known as the Tay-Son began a populist rebellion that would vanquish the Trinh, the Le, and the Nguyen rulers, seizing Hanoi, Hue, and Saigon, and creating their own short-lived dynasty (1788-1802) that would soon fall to the Nguyen.
At the end of the Le Dynasty, when the social status of women was sharply reduced, Ho Xuan Huong constantly questioned the order of things, especially male authority. The rigid feudalism of the latter Le Dynasty took the 2000-year-old Confucian Book of Rites as its fundamentalist guidebook in which a woman "when unmarried, should obey her father; when married, her husband, and, if widowed, her son." To make matters worse, dowry and wedding rules had become so expensive and complicated by Ho Xuan Huong's time that fewer women of her class were getting married; more were becoming concubines.
Ho Xuan Huong chose to write in Nom writing system that represented Vietnamese speech rather than Chinese, the language of the mandarin elite. Her choice to write poetry in Nom gives her poetry a special Vietnamese dimension filled with the aphorisms and speech habits of the common people.
The most surprising fact is that the greater part of her poems--each a marvel in the sonnet-like lu-shih style--are double entendres: each has hidden within it another poem with sexual meaning.
For her erotic attitudes, Ho Xuan Huong turned to the common wisdom alive in peasant folk poetry and proverbs, attitudes that from her literary pen might be read more accurately as defiance rather than as a psychosexual malady, as some of her critics have charged."
Note. All of above facts are retrieved from the internet, John Balaban is the writer.
And now, dear friends and colleagues,
I would like to introduce to you one well-known poem written by Ho Xuan Huong, “Đánh Đu” (The swing/La balançoire), translated beautifully by one of our Pharmaceutical community, Pharmacist Nguyen Xuan Duyet/Duyen Thuong with a gracious touch by Chị DS Bình Nhung.
Thank you Mr. Duyet and chị Bình Nhung for providing us two excellent French and English versions of Đánh Đu.
Hope you all enjoy reading the poem.
Truly,
So’ng Vie^.t
http://health.groups.yahoo.com/group/dd_duockhoa_vn/message/8998
Friday November 29 2002
***
DDa'nh DDu
Bo^'n co^.t khen ai khe'o khe'o tro^`ng !
Ngu+o+`i thi` le^n dda'nh ke? ngo^`i tro^ng
Trai du go^'i ha.c khom-khom ca^.t
Ga'i uo^'n lu+ng ong ngu+?a-ngu+?a lo`ng
Bo^'n ma?nh qua^`n ho^`ng bay pha^'p-pho+'i
Hai ha`ng cha^n ngo.c duo^~i song-song.
Cho+i Xua^n dda~ bie^'t Xua^n cha(ng ta' ?
Co.c nho^? ddi ro^`i lo^~ bo? kho^ng.
Bốn cột khen ai khéo khéo trồng!
Người thì lên đánh kẻ ngồi không
Trai du gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng cong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phất phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song.
Chơi Xuân đã biết Xuân chăng tá?
Cọc nhổ đi rồi lỗ bỏ không.
La balançoire
Félicitations à celui qui adroitement
A planté les quatre poteaux de la balançoire.
Les uns montent se balancer, les autres assis, regardant.
Le gars cambre ses genoux, bande ses reins.Victoire!
La fille arquant sa taille de guêpe, offre son bassin.
Quatre pans de pantalons roses claquent au vent.
Deux paires de belle jambes s'étirent parallèlement.
Pour ces jeux printaniers, êtes -vous réellement mûrs?
Les piliers retirés, on laisse tels quels les trous.
****
The swing
Congratulations to whoever, skillfully
Planted the four posts of the swing, beautifully.
Some people climb aboard to swing, while others
Are just quiet onlookers, observing and smiling.
Curving his knees, the boy arches his back.
Twisting her wasp- waist, the girl pushes her pelvis.
Four pink pant-tails are flapping in the wind.
Two pairs of legs are stretching side by side
For these spring games, are you really mature ?
Once the posts are removed, the holes are left as such.
29 Nov 2002
Duyên- Thương
Tuesday, May 22, 2012
Duyên Thương dịch thơ Huy Cận (Ngậm Ngùi)
Nga^.m Ngu`i
Huy Ca^.n
Na('ng chia nu+?a ba~i chie^`u ro^`i
Vu+o+`n hoang trinh nu+~, xe^'p ddo^i la' ra^`u
So+.i buo^`n, con nhe^.n gia(ng mau
Em o+i! Ha~y ngu?... anh ha^`u qua.t dda^y
Lo`ng anh mo+? vo+'i qua.t na`y
Tra(m con chim mo^.ng ve^` bay dda^`u giu+o+`ng
Ngu? ddi em, mo^.ng bi`nh thu+o+ng!
Ru em sa(~n tie^'ng, thu`y du+o+ng ma^'y bo+`;
Ca^y da`i bo'ng xe^' nga^?n ngo+
Ho^`n em dda~ chi'n ma^'y mu`a thu+o+ng ddau?
Tay anh, em ha~y tu+.a dda^`u,
Cho anh nghe na(.ng, tra'i sa^`u ru.ng ro+i...
COMPASSION ou L' Aventurier et la Courtisane.
Le crépuscule envahit de mélancolie
La belle plage à demi-ensoleillée.
Dans cette roseraie longtemps abandonnée
La charmante et humble sensitive replie
Ses folioles froissées par le vent volage !
De ses fils de chagrin l'araignée envisage
De tisser follement sa toile à n'en plus finir.
-Viens dormir ma chère ,je suis là pour te servir
A ton chevet, mon coeur s'ouvre comme cet éventail
Et cent oiseaux de rêve reviennent au bercail.
-Dors, chérie, serein est ton rêve qui ramène
Les murmures des saules berçant ton âme en peine.
L'ombre du soir, parmi les grands arbres élancés
Se faufile et se perd en des coins égarés.
Des saisons bien mûres de douleur et de passion
Pèsent sur ton âme en mal de compassion.
Sur mon bras étendu laisse choir la tristesse
Ce fruit d'anxiété ruinant ta jeunesse.
Duyen - Thuong , traducteur libre.
Observation: En tant que poète , lui- même, Duyen-Thuong, très sentimental et plein d'empathie pour la courtisane, ajouterais volontiers , si Huy-Can le lui permettais, et vous aussi
Chers Lecteurs, 4 vers de son cru, à la fin du poème traduit.
Les voici :
Demain ,crois moi, ton destin sera bien changé.
Le vent emportera l'éternelle souffrance
Du mal profond tu sors,ivre de délivrance,
De joie et de bonheur avec l'être aimé.!
Mai dda^y, em ha~y tin ra(`ng
DDo+`i Em thay ddo^?i , thoa't vo`ng tra^`m u+u .
Gio' xe~ cuo^'n ddi trái sa^`u va.n co^?
Em say vui su+o+'ng so^'ng cu`ng ngu+o+i ye^u.
DUYEN -THUONG
Nov 30, 2002
Subscribe to:
Posts (Atom)





