Wednesday, August 19, 2020

Triết Gia Socrates. Đàm Giang




Nhà Triết học Socrates (469 – 399BC)


Socrates (Louvre Museum)

Socrates (470-399 BC) xuất thân trong một gia đình khá giả ở Athens. Cha làm nghề điêu khắc, mẹ là nữ hộ sinh. Ông hướng về chính thể chủ nô quý tộc chống lại chủ nô dân chủ. Năm 399 BC, ông bị chủ nô dân chủ kết án tử hình về tội “coi thường luật pháp, chống lại chế độ bầu cử dân chủ”.
Sự đóng góp của ông thay đổi từ nguyên lý vũ trụ sang nguyên lý nhân minh đã làm nên một bước chuyển mới trong nền triết học. Sau này triết học Hy Lạp mới lấy ông làm tiêu chí để phân kỳ, và thẩm định những giá trị của tư tưởng Socrates đối với sự phát triển trong lịch sử.
Ông là một trong những nhà tư tưởng nổi tiếng thời cổ đại, đối với ông chỉ có văn nói sống động, và ông chỉ thường xuyên đàm luận mà không viết. Vì bản thân Socrates không viết gì, ông không để lại cho đời một tác phẩm nào, những bằng chứng về cuộc đời và các hoạt động của ông ngày nay chúng ta biết được đều xuất phát từ những ghi chép từ học trò của ông như Plato (khoảng 427-347 BC)  và Xenophon (khoảng 431-352 BC) và từ những tư tưởng của triết gia khác.
Năm 399 Trước Công nguyên  (TCN) ông bị kết án tử hình vì tội hoạt động chống chế độ dân chủ, chủ trương thay tôn giáo đương thời bằng một tôn giáo mới làm giảm hiệu lực của nước nhà, làm hư hỏng thanh niên. Ông đã từ chối việc các bạn ông muốn cứu ông ra nước ngoài và ông đã chấp thuận uống thuốc độc.
Ngoài những câu chuyện về tính cách kỳ lạ của Socrates, Ông được mô tả như một người thấp, bình thường không có được cái đẹp chuẩn mực của người dân ở Athens lúc bấy giờ. Ông cũng rất nghèo, tài sản của ông chỉ có những vật dụng thiết yếu nhất cho cuộc sống. Tuy vậy, sự xấu xí về diện mạo của ông lại không hề ngăn cản việc ông được những người xung quanh cực kỳ chú ý.
Tư tưởng của ông đậm tính tôn giáo mặc dù ông chỉ trích các thần thoại Hy Lạp. Lời nói và những hành động của ông được viết trong các tác phẩm như Apology, Crito, Phaedo, và Symposium đều cho thấy sự tôn trọng sâu sắc của ông đối với các phong tục tôn giáo của Athens và sự tôn kính chân thành với thần thánh.

Phương pháp tranh luận của Socrates bắt đầu bằng những câu hỏi khiến đối phương tin rằng người hỏi rất đơn giản, nhưng sau đó lại kết thúc bằng sự đảo ngược hoàn toàn. Vì thế, những đóng góp chủ yếu của ông không nằm ở việc xây dựng một hệ thống phức tạp, mà ở việc xóa bỏ những niềm tin sai trái và dẫn dắt con người nhận thức được sự thiếu hiểu biết của mình, từ vị trí đó họ mới có thể bắt đầu khám phá sự thật. Chính sự kết hợp độc đáo giữa kỹ năng biện chứng (sử dụng logic và lập luận trong một cuộc tranh luận) với sức hấp dẫn mạnh mẽ của ông với những người trẻ đã khiến những đối thủ của ông có cơ hội đưa ông ra xét xử vào năm 399 TCN.

Cái chết của Socrates
Meletus, Lycon và Anytus là những kẻ buộc tội Socrates vô thần và làm hư hỏng giới trẻ của thành Athena. Ông bị kết án tử hình bằng cách phải uống thuốc độc.


 Tranh của Jacques-Louis David (1787)

Socrates là tên tuổi nhiều màu sắc nhất trong lịch sử triết học cổ đại. Danh tiếng của ông lan rộng khắp nơi và nhanh chóng trở thành một cái tên mà ai cũng biết trong thời kỳ đó, mặc dù ông không sở hữu trí khôn phi thường, không xây dựng hệ thống triết học, không thiết lập trường học và tông phái nào hết.
Ông đặt câu hỏi về khái niệm của cải vật chất và lập luận rằng việc theo đuổi với của cải vật chất thì phải trả bằng một cái giá. Ông đã đặt câu hỏi về sự cố định của người Athens với vẻ đẹp hình thể,  việc cải thiện tâm trí của con người, tất cả đều cần phải trả một cái giá nào đó.
Và vì vậy, câu trả lời mà Socrates đã cho ra, áp dụng cho chúng ta ngày hôm nay, cũng giống như thời ở Athens của ông là suy nghĩ và đặt câu hỏi. Và ông đã mô hình hóa câu trả lời này để ông có thể giúp tất cả người Athens thoát khỏi nhà tù tinh thần của họ. Ông đặt câu hỏi về giá trị của việc bám vào vinh quang trong quá khứ để có được niềm tự hào.
Vì đã đặt hỏi những câu hỏi này, Socrates bị kết tội làm hư hỏng giới trẻ Athens và bị kết án tử hình. Bản án của ông phản ánh một xã hội Athen giao động trong e sợ, một xã hội không muốn giới trẻ đặt câu hỏi về nền tảng của thế giới của họ về sự giam hãm tinh thần.
Nhưng trong thế giới của chúng ta, chúng ta có thể tự do đặt những câu hỏi này. Chúng ta có thể kiểm tra cuộc sống của chúng ta cho các tù bẫy đặt ra. Chúng ta có thể nhìn sâu hơn thường lệ để có thể làm cho cuộc sống của chúng ta có ý nghĩa, cuộc sống mà chúng ta chọn, cuộc sống có chủ ý không bị áp đặt. Chúng ta có thể trải nghiệm thế giới theo cách chúng ta muốn. Chúng ta có thể nghĩ. Chúng ta có thể học hỏi. Chúng ta có thể thay đổi. Và chúng ta có thể tạo mới lại thế giới để đáp ứng các giá trị và niềm tin của chúng ta.  Không bao giờ là quá muộn để trở thành những gì bạn có thể có được.
Trong một cuộc đời ngắn ngủi dành thời gian của chúng ta trong các giam hãm là một bi kịch. Tất cả chúng ta đều xứng đáng được sống một cuộc sống mà chúng ta muốn sống, không bị ràng buộc, đầy thành tích mang lại cho chúng ta niềm vui. Không phải thành tích cho người khác, mà cho chính chúng ta. Và điều này chúng ta có thể đạt được bằng cách suy nghĩ và đặt câu hỏi, giống như  Socrates đã dạy chúng ta.
Mười chín năm sau khi Socrates uống thuốc độc trong nhà tù tại Athens,  một học trò của Socrates tên là Plato đã viết tác phẩm Cộng hòa (khoảng 375BC), nổi tiếng nhất của ông. Trong tác phẩm  này, ông đã tạo dựng cuộc đối thoại giữa Socrates và nhiều người Athens và người nước khác để trình bày ý tưởng của mình rằng hầu hết mọi người sống cả đời trong các nhà tù. Để chứng minh điều này, ông mô tả một hang động bên trong mà các tù nhân bị xích. Tất cả những gì họ nhìn thấy là những cái bóng được chiếu lên tường bởi những vật thể đi đằng sau chúng.
Và Socrates hỏi: nếu cả đời họ những tù nhân này chỉ nhìn thấy những cái bóng này, liệu họ có tin rằng những cái bóng đó là có thật và tất cả đều hiện diện trên thế giới? Socrates gợi ý rằng những trải nghiệm của chúng ta áp đặt một nhà tù đối với chúng ta, một nhà tù được tạo ra bởi sự dạy dỗ của chính chúng ta và môi trường xung quanh, một nhà tù tinh thần hạn chế suy nghĩ của chúng ta và quyết định hành vi của chúng ta. Trong hang động, những chuỗi xiềng đã ngăn không cho tù nhân rời khỏi động chính là đại diện cho sự thiếu hiểu biết của họ. Những cái bóng đổ trên tường đại diện cho những ảo ảnh mà họ nhầm lẫn với thế giới hiện tại. Và cuối cùng, các tù nhân được giải thoát đại diện cho những người trong xã hội đã nhìn thấy thế giới vật chất mà  không phải là ảo tưởng.
Nhà tù tinh thần mà Socrates mô tả là quỷ quyệt vì nó vô hình. Làm thế nào chúng ta có thể vượt qua các nhà tù mà chúng ta không biết là có? Làm thế nào chúng ta có thể tự giải thoát nếu chúng ta không biết mình bị mắc kẹt?
Có phải những nhà tù này tồn tại trong thời đại của chúng ta cũng tương tự như những gì họ đã có trong thời của họ?
Socrates có một sức ảnh hưởng vô cùng mạnh mẽ đối với những triết gia sau thời kỳ cổ đại và kỷ nguyên hiện đại. Những tác phẩm văn học, nghệ thuật và văn hóa đại chúng miêu tả về Socrates đã khiến ông trở thành một trong những hình tượng được biết đến rộng rãi nhất trong nền tư tưởng triết học phương Tây.
Đàm Giang sưu tầm và biên soạn.
August 19, 2020

Tuesday, August 18, 2020

Clover. Trefle. Shamrock. Trifolium repens. DG



Clover (Trefle). Trifolium repens. Fabaceae.
Shamrock.
  

Cỏ ba lá hay tam thất là tên gọi chung của các loài thực vật thuộc chi Tam thất, gồm khoảng 300 loài thực vật có hoa trong họ Đậu Fabaceae.
Cỏ ba lá hoa trắng hay đậu chẽ ba hoa trắng hay còn gọi chẽ ba bò, cỏ chĩa ba, xa trục thảo (danh pháp khoa học: Trifolium repens) là loài thực vật có hoa thuộc họ Đậu Fabaceae, được Carl Linnaeus mô tả khoa học lần đầu tiên năm 1753.
Tên gọi Trifolium bắt nguồn từ tiếng Latin tres, tres nghĩa là "ba", và folium nghĩa là "lá". Tên gọi bắt nguồn từ hình dạng của lá chét, thường có 3 lá chét trên một cuống lá (trifoliolate). Phần còn lại của danh pháp, repens, tiếng Latin nghĩa là "bò (nằm sát đất).
Những biến dị của cây tạo nên chẽ bốn lá hoặc nhiều hơn và trở thành là một biểu tượng của sự may mắn, thường được gọi là Shamrock, cỏ may mắn.
 
Đàm Giang
August 18, 2020

Faculty of Pharmacy Paris. Antoine Parmentier. SVDG.




Khoai Tây Nghiền và Dược sĩ Antoine-Augustin Parmentier.
Đàm Giang

Đã hai lần đi thăm Paris, người viết có dịp ghé một số trường đại học tại Paris; chỉ là một hình thức nhìn qua, chụp vài tấm hình kỷ niệm. Và lẽ dĩ nhiên trường Đại học Dược khoa Paris thì không thể nào không ghé thăm được.
Paris có hai trường Dược, một trường cũ trong thành phố Paris nằm ở quận 6, và một trường mới nằm ở Chatenay Malabry rộng lớn hơn nhiều.
Ngay trong sân phía trước mặt tiền của trường Dược cũ ở quận 6, có một bức tượng có đề tên AA Parmentier ở chân tượng. Ông Parmentier là ai?

Antoine-Augustin Parmentier (1737-1813) là một dược sĩ và nhà nông học người Pháp, được nhớ đến nhiều nhất với tư cách là người khởi động dùng khoai tây như một nguồn thực phẩm cho người dân ở Pháp và khắp châu Âu.


Món khoai tây nghiền tán nát và món ăn Hachis Parmentier được biết đến khắp nơi
Hachis Parmentier là một món ăn gratin được làm từ khoai tây nghiền và thịt bò xay.
Món ăn truyền thống của Pháp mang tên Hachis Parmentier này xuất phát từ Paris, và Parmentier là người đã giới thiệu nó với vua Louis XVI, với niềm tin rằng loại củ này, đúng tên là khoai tây, sẽ là một phương thuốc hữu hiệu chống lại nạn đói.

 Đại học Dược Paris ở Avenue de l’Observatoire này hiện nay đã quá cũ, nên thời nay chỉ có một số lớp học chuyên ngành còn hầu hết sinh viên Dược đều theo học tại Đại học Dược mới ở Chatenay Malabry hiện đại và rộng hơn, có khả năng đón tiếp số sinh viên cũng nhiều hơn những thập niên trước.
Một số hình ảnh trường Dược Paris cũ trên đường Observatoire.



  
Duới đây là một chút viết về Dược sĩ Antoine-Augustine Parmentier.
Là người sinh ra ở vùng Picardy, Parmentier đăng ký vào dịch vụ quân y dưới thời Louis XV và bắt đầu sự nghiệp của mình trong trận Chiến tranh Bảy Năm. Bị quân Phổ bắt giam, Parmentier ở trong tù không được ăn gì ngoài món nghiền làm từ một loại củ gọi là “khoai tây”, và nhớ vậy Parmentier đã khám phá ra chất dinh dưỡng của thực phẩm này.
Thời gian sau đó, làm việc như một dược sĩ tại Hôtel des Invalides ở Paris, Parmentier đã tiến hành nghiên cứu về các loại rau có thể thay thế những loại rau truyền thống được sử dụng để cung cấp thức ăn cho người dân. Trong suốt cuộc đời của ông, Parmentier vẫn không mệt mỏi trong hành trình ngăn chặn tình trạng thiếu lương thực đang tàn phá vương quốc.

Là một thành viên của Hiệp hội Nông nghiệp, một giáo sư tại Trường Cao đẳng Dược và Trường Bakery, nghiên cứu của ông về khoai tây mà ông trồng ở vùng đồng bằng Sablons bên ngoài Paris đã dẫn đến cuốn Chuyên luận của ông về Văn hóa và Sử dụng Khoai tây vào năm 1789. đã gặp rất nhiều thành công và khiến ông được Louis XVI khen ngợi: "Một ngày nào đó, nước Pháp sẽ cảm ơn vì bạn đã tìm thấy bánh mì cho người nghèo!"
Ngoài tượng ông đặt tại trường Đại học Dược Paris, còn vài nơi khác cũng đặt tượng ông.
 Riêng tại điện Versailles thì có bức họa  chân dung của Parmentier do François Dumont vẽ  ông trong thời kỳ Đế chế (1812) trong trang phục hàn lâm, đeo Thập tự giá của Sĩ quan và cầm một bó hoa nông nghiệp gồm lúa mì và ngô, hoa khoai tây. Tài liệu ghi lại cho biết trong bức hoạ ông được bao quanh bởi các tác phẩm đã giúp truyền cảm hứng cho nghiên cứu của ông như  Nhà hát nông nghiệp và quản lý đồng ruộng của Olivier de Serres (1600), Khóa học toàn diện về nông nghiệp của Abbé Rozier (1781-1800) và Từ điển phổ quát về nông nghiệp và làm vườn (1775). Phía sau ông là bức tượng mờ Thiên nhiên và một cửa sổ mở ra một trang trại nông súc.


    

Món ăn Hachis Parmentier gồm có: khoai tây nghiền nát, thịt bò xay. Và những thứ khác trong công thức gồm bơ, sữa, muối tiêu, tỏi, trứng, cheese bào và parsley.

Đàm Giang tổng hợp và biên soạn.
August 18, 2020

Bài Từ Tố Trung Tình Cận. Liễu Vĩnh. HHD.SVĐG.




Bài Từ 17
điệu Tố Trung Tình Cận 
của Liễu Vĩnh.

Đàm Giang phỏng dịch

Mưa Tạnh
Mưa tạnh trời sáng                            
Đứng vọng lầu nhìn xa tắp               
Sông trong phản chiếu sáng ngời      
Vòm núi cây cối xanh ngắt               
Cầu Đoạn ngõ vòng không rõ          
Mờ tỏ thôn chài                                
Khói tỏa chiều tà sắp                             

Tàn dần nắng                                        
Dựa lan can tâm tịnh lắng                      
Kéo sầu bi đát                                       
Không rượu tuồng say khướt                 
Buồn sướt mướt                                    
Mây chiều lướt vội                                     
Gió thu cũng kiệt                                  
Người cũ xa lắc                                     
Ngày ngóng không ngưng mắt.
              
 Đàm Giang Phỏng dịch
August 6 2020



訴衷情近 - 柳永    Tố Trung Tình Cận - Liễu Vĩnh               

雨晴氣爽,             Vũ tình khí sảng,                          
竚立江樓望處,     Trữ lập giang lâu vọng xứ,
澄明遠水生光,     Trừng minh viễn thủy sinh quang,
重疊暮山聳翠。     Trùng điệp mộ sơn tũng thúy.
遙認斷橋幽徑,     Dao nhận đoạn kiều u kính,
隱隱漁村,             Ẩn ẩn ngư thôn,
向晚孤煙起。         Hướng vãn cô yên khởi.

殘陽裏,                  Tàn dương lý,
脈脈朱闌靜倚。      Mạch mạch chu lan tĩnh ỷ.
黯然情緒,              Ảm nhiên tình tự,
未飲先如醉。          Vị ẩm tiên như túy.
愁無際!                  Sầu vô tế!
暮雲過了,              Mộ vân quá liễu,
秋風老盡,              Thu phong lão tận.
故人千里,              Cố nhân thiên lý,
竟日空凝睇!          Cánh nhật không ngưng đệ.
  
 Chú Thích
Từ điệu Tố Trung Tình cận gồm 75 chữ, chia làm 2 đoạn, đoạn trên 7 câu có 3 trăc vận, đoạn dưới 9 câu có 6 trắc vận.
B: bình thanh, T: trắc thanh, X: bất luận, cú: hết câu, vận: vần.


2- Vũ tình khí sảng: mưa tạnh trời quang, khí trời trong sáng.
3- Trữ lập: đứng 1 lúc lâu..
4- Trừng minh: sáng trong suốt. Sinh quang: phát ra ánh sáng.
5- Tũng thúy: hình dung vòm núi, cây cối cao xanh.
6- Dao nhận: nhận ra từ nơi xa.
7- Đoạn kiều: tên 1 cây cầu ở tỉnh Hàng Châu, TH.
8- Hướng vãn: sắp tới buổi chiều.
9- Cô yên: chỉ có 1 lùm khói tỏa lên.
10- Mạch mạch: yên lặng dùng ánh mắt hay cử chỉ biểu đạt tình ý.
11- Chu lan: lan can sơn son.
12- Ảm nhiên: ảm đạm, buồn bã chán nản.
13- Vô tế: vô biên, vô bờ, vô bờ bến.
14- Lão tận: suy kiệt..
15- Cánh nhật: suốt ngày.
16- Ngưng đệ: chú thị, chú ý nhìn vào.


Dịch nghĩa:
Mưa tạnh, khí trời trong,
Đứng trên lầu trên sông trông ngắm.
Trong vắt nước xa sinh ánh sáng,
Trùng điệp núi tối vút cao xanh.
Xa xa mờ nhìn ra Đoạn Kiều lối nhỏ âm u.
Xóm chài ẩn hiện,
Chiều sắp đến, khói cô đơn nghi ngút.

 Trong nắng tàn,
Bâng khuâng yên lặng, dựa lan can sơn son.
Ảm đạm tình tự,
Chưa uống đã như say.
Sầu không bến bờ,
Mây tối qua rồi.
Gió thu già hết, gió thu đã suy tàn (bản khác chép: thu quang lão tận = ánh sáng mùa thu đã suy kiệt)
Cố nhân ngàn đặm,
Suốt ngày không làm gì, chỉ trông ngóng đăm đăm.

HHĐ
**

Chú Thích

1- Từ điệu Tố Trung Tình cận gồm 75 chữ, chia làm 2 đoạn, đoạn trên 7 câu có 3 trăc vận, đoạn dưới 9 câu có 6 trắc vận. Cách luật:

T  B  T  T cú   
T  T  B  B  T  T vận
B  B  X  T  B  B cú
B  T  T  B  T  T vận
B  T  T  B  B  T cú   
X  T  B  B cú    
T  T  B  B  T vận

X  B  T vận
T  T  B  B  T  T vận
T  B  B  T cú 
T  T  B  B  T vận
B  B  T vận
T  B  T  T cú  
B  B  T  T cú  
T  B  X  T vận
T  T  B  B  T vận


Mưa tạnh trời sáng                             (4)
Đứng vọng lầu nhìn xa tắp                (6)
Sông trong phản chiếu sáng ngời       (6)
Vòm núi cây cối xanh ngắt                (6)
Cầu Đoạn ngõ vòng không rõ           (6)
Mờ tỏ thôn chài                                 (4)
Khói tỏa chiều tà sắp                            (5)

Tàn dần nắng                                       (3)
Dựa lan can tâm tịnh lắng                     (6)
Kéo sầu bi đát                                      (4)
Không rượu tuồng say khướt                (5)
Buồn sướt mướt                                   (3)
Mây chiều lướt vội                                      (4)
Gió thu cũng kiệt                                 (4)
Người cũ xa lắc                                    (4)
Ngày ngóng không ngưng mắt.             (5)

SVĐG
August 06, 2020
         
 Phỏng dịch  

Mưa Tạnh
 Mưa tạnh trời quang,
Đứng lặng lầu cao ngắm cảnh sông,
Rạng ngời chiếu sáng nước xa trong.
Núi chiều trùng điệp cao xanh thẳm,
Cầu Đoạn mờ xa lối ngõ vòng.
 Thấp thoáng ngư thôn,
Chiều về cô đơn khói tỏa.

Trong ánh nắng tàn,
Bâng khuâng yên lặng dựa lan can.
Ảm đạm tình này,
Chưa uống đã say.
Sầu lên vô hạn,
Mây chiều vội bay.
 Gió thu đang tàn tạ,
Cố nhân ngàn dặm xa. 
Đăm đăm trông ngóng ngày qua.

HHD 1-28-2013  
      



Wednesday, August 12, 2020

Họa Thơ. Đáp Lời Mừng Thọ. Hoàng Xuân Hãn. SVĐG.



Ông Hoàng Xuân Hãn được biết tiếng qua văn học sự nghiệp của ông, nhưng có lẽ ít người biết ông có tài làm thơ. Tình cờ cách đây ít năm có ông bạn ở Paris cho đọc bản thảo một bài thơ với chính bút tự của ông Hoàng Xuân Hãn viết. Và hôm nay tình cờ người viết hàng chữ này được đọc lại. Có chút cảm hứng nên xin mạn phép hoạ lại, với
lòng quý trọng một danh tài của người Việt chúng ta.
SV Đàm Giang.

Đinh Mão là năm 1987, Ông Hoàng Xuân Hãn sinh năm 1908, ở đây có lẽ tính theo tuổi ta (?).


Vui tuổi đời

Thắm thoắt nay đà ngoại bẩy mươi
Đời sao nghĩ lại vẫn ưng cười
Ba mươi tuổi chẵn buồn lìa xứ
Sáu bốn hưu về chợt thấy tươi
Bốn bể rong chơi ngày bận rộn
Năm châu mỏi gối tối nhàn lười
Đồng hành có bạn cùng chung hướng
Cảm tạ tình thân dạ đãi người.

SV Đàm Giang

Mùa Hè năm Canh Tý
August 12 2020.



Hoàng Xuân Hãn (1908-1996) là một nhà sử học, nhà ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu văn hoá, giáo dục Việt Nam đồng thời là một kỹ sư, nhà toán học. Ông là người soạn thảo và ban hành Chương trình Trung học Việt Nam đầu tiên.
 Ông quê làng Yên Hồ, huyện La Sơn, nay là xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, thuở nhỏ học chữ Hán và chữ Quốc ngữ tại nhà. Năm 1926 (18 tuổi), ông đậu bằng Thành Chung, rồi ra Hà Nội học trung học ở trường Bưởi. Sau đó một năm, theo thiên hướng, ông lại chuyển sang học chuyên Toán ở Lycée Albert Sarraut. Năm 1928 (20 tuổi), ông đỗ thủ khoa kỳ thi tú tài toàn phần và được nhận học bổng của chính phủ Đông Dương sang Pháp học dự bị để thi vào các trường lớn. Thời gian ở Pháp, ông học tại các trường Bách Khoa Paris, rồi École Nationale des Ponts et Chaussées, Sorbonne.

Wednesday, August 5, 2020

Thơ Đàm Giang. Đạt Mộng Đêm Sao.





Đạt Mộng Đêm Sao.
Đàm Giang

Một dải Ngân Hà đẹp cách nào!
Ngàn sao lấp lánh chiếu trên cao,
Lung linh Chức nữ vui vời đón,
Thấp thoáng Ngưu Lang lộ nét chào.
Đối ẩm cùng trời thỏa giấc mộng,
Dầm sương dãi đất ngỡ chiêm bao.
Căn lều nhỏ bé mình ta chủ!
Vũ trụ bao la quả ngọt ngào.

Đàm Giang
August 04 2020