Monday, November 12, 2012

Auguste Rodin (Nov 12, 2012)

Auguste Rodin


Để kỷ niệm 172 sinh nhật nhà điêu khắc tài danh người Pháp Auguste Rodin, hôm nay November 12, 2012 Google đã vẽ một biểu tượng cho chữ Google với một O mang hình bức tượng nổi tiếng Le Penseur/Người Suy Tư của ông. Bức tượng Le Penseur là một phần trong tác phẩm La Porte de l’ Enfer hiện đặt tại Viện Bảo Tàng Rodin ở Paris, Pháp. Trong những tác phẩm nổi danh của Rodin phải kể đến The Thinker, The Kiss, Victor Hugo, Honoré de Balzac, Eternal Spring, Eternal Idol, Eve.

Auguste Rodin ( François-Auguste-René Rodin (November 12, 1840 -November 17, 1917) là một họa sĩ và nhà điêu khắc người Pháp. Ông là điêu khắc gia hàng đầu của Pháp thời bấy giờ và hiện nay tên tuổi của ông được biết đến khắp nơi trong và ngoài giới nghệ thuật.

Rodin thường được cho là điêu khắc gia tiên phong của ngành điêu khắc hiện đại nhưng ông quả không cố ý mở con đường phá lệ đi ngược với quy ước cổ điển. Chính ông đã được đào tạo theo ngành nghệ thuật cổ điển, hành tập như một nghệ nhân nhưng mang kỳ vọng là ông sẽ được giới thẩm quyền nghệ thuật kính trọng cho dù ông không được nhận vào những học viện nổi tiếng nào của Pháp cả. Về mặt điêu khắc, ông có biệt tài dùng đất sét.

Nhiều tác phẩm có tiếng của Rodin đã bị chê trách đồng loạt khi ông còn sinh thời vì chúng không theo truyền thống điêu khắc, tức là kém về phần trang trí, thiếu quy ước cách thể và không hợp đề tài cổ điển. Tác phẩm của Rodin quả thật bỏ xa con đường mòn của huyền thoại Hy lạp hay điển tích trong Kinh thánh. Ông nặn cơ thể con người trong những tác phẩm điêu khắc của ông thiên hẳn về lối hiện thực, ca ngợi cá tính riêng của mỗi nhân vật. Rodin rất nhạy cảm vì những lời phê bình về ông nhưng trước sau, ông vẫn không thay đổi đường lối để rồi những tác phẩm sau của ông dần chiếm được sự ngưỡng mộ của chính giới cũng như giới nghệ thuật.

Rodin thắng cuộc thi tuyển để thiết kế cổng bằng đồng vào viện bảo tàng mỹ thuật. Tác phẩm này mang tên La Porte de l’Enfer /Cửa địa ngục chiếm gần bốn thập niên trong cuộc đời sáng tác của ông. Mỗi phần điêu khắc cho toàn tác phẩm này xứng đáng là một tác phẩm riêng như Le Penseur/Người suy tư và La Baiser/Nụ hôn. Tiếc thay La Porte de l'Enfer bị bỏ dang dở vì tòa nhà bảo tàng đó không được xây cất. Tuy nhiên ông lại được chính phủ dành cho ông trong thời gian thực hiện bộ cổng bằng đồng được tự do sáng tác. Và mặc dù bận vì tác phẩm La Portal de l'Enfer, Rodin cũng thực hiện một số tác phẩm theo đơn đặt hàng như đơn của thị xã Calais (The Bughers of Calais) năm 1891 và tượng đài vinh danh văn sĩ Honoré de Balzac.

Ông mất ngày 17 Tháng Mười Một, năm 1917 ở Meudon, ngoại ô Paris. Một phiên bản tượng "Người suy tư" (Le Penseur) được dựng ở mộ phần theo ước nguyện của ông (theo Wikipedia).

Dưới đây là một số hình tác phẩm của Rodin chụp tại Museum Rodin.




 





  

Sunday, October 14, 2012

Phim chuyện Memento: Ngược dòng Ký Ức


Trong một posting khác, Sóng Việt đã viết giới thiệu về câu chuyện ngắn Memento mori của Jonathan Nolan.
Dưới đây là trang giới thiệu về chuyên phim Memento của đạo diễn Christopher Nolan, người anh lớn của Jonathan.

Phim chuyện Memento
Hành trình tìm kiếm ngược dòng ký ức
Sóng Việt

Memento được trình chiếu lần đầu vào năm 2000 và được đạo diễn bởi Christopher Nolan. Chuyện phim Memento dựa theo mẩu truyện ngắn Memento Mori của  em trai Christopher tên là Jonathan Nolan viết.

Tổng quát

Bộ phim bắt đầu với hình ảnh nhân vật Leonard Shelby, một cựu nhân viên điều tra những vụ gian lận bảo hiểm, với hành trình tìm kiếm ngược dòng ký ức để truy lung hung thủ đã cưỡng bức và sát hại vợ anh ta. Là một bệnh nhân mắc chứng quên ngắn hạn, bộ não của Leonard không thể tiếp nhận thêm những ký ức mới, anh đã tạo lập nên hệ thống một loạt những ghi chú, hình ảnh và những chữ xăm trên cơ thể để giữ lại thông tin về bản thân, những người xung quanh liên hệ và đặc biệt là kẻ đã sát hại vợ anh ta trước khi anh bị tai nạn làm mất trí nhớ.  Giúp đỡ Leonard trong cuộc tìm kiếm hai nhân vật tên Teddy  và Natalie.

Bộ phim diễn tả qua sắc mầu với hai dòng ký ức riêng biệt.
 Một dòng ký ức đầy đủ màu  luôn lặp lại tuần hoàn với những chuỗi sự kiện trước nối tiếp những bước nhảy của ký ức xảy ra ngay trước nó, tường thuật lại những sự việc xảy đến với Leonard.
 Dòng ký ức trắng đen trở lại thời điểm Leonard nói chuyện với một nhân vật nào đó trong một căn phòng. Khi mỗi cảnh mới bắt đầu, Leonard lại mất toàn bộ ký ức về hiện tại và không biết mình đang ở đâu và làm gì. Cảnh phim kết thúc ngay khi ký ức của anh bị xóa.

Nội dung

Những ký ức đứt đoạn trắng đen cho thấy Leonard trong một căn phòng khách sạn tồi tàn đang cố giải thích hoàn cảnh của mình cho một người nào đó bên đầu kia giây điện thoại. Anh kể về câu chuyện Sammy Jankis một người đàn ông Leonard đang điều tra vì bị nghi vấn gian lận để nhận bảo hiểm. Sammy thừa nhận mình là người có trí nhớ ngắn đoạn và sau một vài lần kiểm tra, trường hợp của Sammy được xác định là giả mạo. Với ý định đưa ông ta ra khỏi tình trạng này, người vợ quẫn trí đã bắt ông hàng ngày phải tiêm insulin cho bà với chu kỳ 20 phút một lần. Người đàn bà nghĩ rằng chồng mình sẽ không thể quên được công việc này thế nhưng mỗi lần làm xong Sammy lại không thể nhớ sự việc vừa xảy ra. Người vợ quá thất vọng, bị hôn mê và qua đời vì nhận quá nhiều insulin qua lời kể của Sammy.

Những ký ức màu sắc bắt đầu với hình ảnh Leonard cầm trên tay bức ảnh một người đàn ông bị anh sát hại trong một tòa nhà đang xây cất, ngay sau đó câu chuyện trở ngược về với ký ức của Leonard. Nạn nhân là Teddy, một người có vẻ như là bạn của Leonard, đang cùng Leonard rời khách sạn và đi tới hiện trường. Bên trong tòa nhà, Leonard tìm thấy trong túi áo bức hình Teddy với ghi chú đằng sau " Đừng tin hắn, hắn là thủ phạm. Hãy giết hắn". Với những chỉ dẫn trên, Leonard đã giết chết Teddy với ý nghĩ chính hắn thủ phạm John G.

Ký ức lại quay trở lại trước khi Teddy tới tìm Leonard, anh đang trong phòng vệ sinh của một nhà hàng. Leonard phát hiện ra hai hình xăm trên mu bàn tay trái và cánh tay với nội dung " Hãy ghi nhớ Sammy Jankis" và "Sự thật ...". Leonard trở về khách sạn và tìm thấy tài liệu có ghi chú về nhân vật John G. với hình Teddy trên căn cước. Khi cởi áo, nhìn vào gương Leonard phát hiện ra hàng chữ xăm "John G. đã cưỡng bức và sát hại vợ tôi" trên ngực. Ngay lập tức anh quyết định viết thêm dòng chữ "Hãy giết hắn" trên bức hình Teddy.

Ký ức màu đoạn phim này cho thấy Leonard tới nhà hàng tìm gặp Natalie, người đã đưa cho anh thông tin về John G. Natalie cho biết cô giúp anh vì trước đây anh đã từng giúp cô. Trong bức hình Natalie, Leonard đọc hàng chữ ghi chú " Cô ấy đã từng mất đi một người và cô ta sẽ giúp anh".
Hình ảnh lại chuyển tiếp khi Leonard thức dậy bên cạnh Natalie tại nhà riêng của cô, Natalie hứa sẽ tìm giúp Leonard tìm kiếm John G. Trước đó một đêm, Leonard đã tới nhà Natalie và tức giận tra hỏi cô về tấm hình của một người có ghi tên Dodd, kẻ mà theo lời cô gái thì Leonard đã giúp cô thoát khỏi vòng áp bức của hắn.

Câu chuyện tiếp tục với cảnh Leonard thức dậy, phát hiện Dodd đang bị bịt mồm mặt máu me, tay bị trói, giam trong buồng tủ nhỏ của một căn phòng. Có tiếng gõ cửa, Teddy xuất hiện. Leonard hỏi tại sao Teddy đến, thì hắn nói là Leonard gọi phone nhờ hắn đến giúp, sau đó Teddy giúp Leonard đưa Dodd ra khỏi thị trấn để thả hắn và kiếm Natalie để tìm hiểu sự thật. Trước đó, Leonard bị Dodd truy đuổi trên phố với khẩu súng ngắn trong tay. Anh tìm thấy trong túi mình mẩu giấy ghi địa chỉ của Dodd và quyết định tới phục kích ở nhà kẻ đang truy sát mình, sau đó đã hạ gục hắn bằng cú đánh trúng đầu với một chai rượu vang.

Ký ức tiếp tục được trở lại với những manh mối dẫn Leonard tìm đến một kẻ được cho là John G. Đó là Jimmy Grantz, người đàn ông đã rời bỏ Natalie. Leonard đã giết Jimmy với ý nghĩ báo thù cho vợ mình. Vài phút sau, Teddy tìm tới gặp Leonard.

Kết thúc của những chuỗi ký ức là khi sự thật được phơi bày qua lời kể của Teddy: Leonard bị ám ảnh bởi câu chuyện của Sammy Jankis (kẻ đã bịa ra câu chuyện mất trí để lấy tiền bảo hiểm) và câu chuyện của chính bản thân anh (người vợ không chết vì bị sát hại mà chết khi Leonard tiêm thuốc quá liều điều trị căn bệnh tiểu đường cho vợ). Teddy cho Leonard hay là một thám tử hắn cảm thông cho câu chuyện của Leonard và giúp anh sát hại một kẻ mang tên John G.  trước đó.
 Trước khi câu chuyện kết thúc, ký ức của Leonard tiếp tục bị xóa bỏ. Anh đốt cháy bức hình của John G. và Jimmy Grantz, rồi tiếp tục nung nấu kế hoạch báo thù Teddy với ý nghĩ đó chính là John G.
Leonard lái xe tới một tiệm xăm mình và quên hết những gì đã xảy ra.

Sóng Việt
Viết phỏng theo bố cục của Thế Giới Điện Ảnh (20/05/2009) 
14 October 2012

Thu Còn Đây


Thu Còn Đây

Bài thơ tình cho nhau
Viết từ năm xưa đó
Khi mùa thu vừa chớm
Qua tháng ngày nắng gió
Tình anh vẫn còn in

Bài nhạc tình cho nhau
Thì thầm lời hát nhẹ
Giữa công trường thánh đuờng
Giữa muôn vàn tiếng động
Còn mãi đọng không gian.

Bài luân vũ cho nhau
Bên giòng sông bốn mùa
Nước tung tăng róc rách
Ánh đèn đường mơ hồ
Gót hài dấu còn vương.

Suốt mùa hạ nồng nàn
Em như cánh chim di
Lang thang không dấu mỏi
Bay bổng cùng mây cao
Cười vui cùng gió trăng.

Nay tiết trời đổi mới
Hanh hanh gió Thu lạnh
Cây lá chớm thay áo
Khăn ấm vai em quàng
Nhớ anh chưa hỡi em?

Thu bên em vừa chớm
Cây vẫn còn giữ lá
Màu xanh vẫn ngự trị
Thì bên anh huy hoàng
Lá vàng ngất rừng thu.

Bên em độ giữa thu
Cây hung hung lá đỏ
Cây nhạt nhòa vàng nâu
Thì cây đây còn chi
Ngoài thân trơ trụi cành.

Em đến...nay Em đến
Em đến: nay Em đến
Thu còn không hỏi anh?

Thiên nhiên thức hay ngủ
Bốn mùa chuyện của trời
Nhưng riêng chỉ mình anh
Rồng Thu vừa xuất hiện
Vương miện tình yêu mang
Cưỡi anh vào cơn gió
Vùng vẫy giữa mây ngàn...

Em biết rồi
Thu đến...

Đến cho riêng mình anh.

Sóng Việt
Thu Năm Rồng
14 October 2012



Saturday, October 13, 2012

The Hữu Văn Đàn số Tháng 10 2012

Giới thiệu một bài viết của Thomas D. Le trên The Firmament (Thế Hữu Văn Đàn)
Link đọc bài viết ở cuối trang
Sóng Việt Đàm Giang
*

Memento Mori: Nhớ rằng bạn rồi chết


Chuyện ngắn của Jonathan Nolan

Câu chuyện Memento Mori của Jonathan Nolan là một chuyện hư cấu nói về sự mất trí nhớ ngắn hạn mang tên là anterograde amnesia của nhân vật tên Earl và những diễn tiến xẩy ra trong một thời gian và cứ thế tiếp tục lập lại.

Anterograde amnesia là mất khả năng tạo nên những ý nhớ mới sau biến cố gây nên mất trí nhớ và vì thế làm mất khả năng một phần hay toàn phần tưởng nhớ lại những chuyện mới xẩy ra gần gần, trong khi những chuyện xẩy ra đã lâu trước khi bị mất trí nhớ thì vẫn còn nguyên vẹn. Mất trí nhớ loại này khác với mất trí nhớ thụt lùi (retrograde amnesia) là những chuyện xẩy ra trước khi mất trí nhớ bị hoàn toàn mất mát sau biến cố mất trí xẩy ra. Mất trí nhớ chuyện xẩy ra gần gần là một chứng bệnh kỳ lạ bởi vì cơ chế cơ thể dự trữ nhớ chưa đuợc hiểu rõ mặc dù vùng gây bệnh đã đuợc xác định.

Memento mori là một từ ngữ Latin có nghĩa là “Nhớ rằng bạn rồi chết”,nhớ rằng bạn phải chết” hay “ nhớ rằng bạn sẽ chết”. Câu này cũng được tương truyền trong dân gian rằng vào thời La mã cổ xưa, một vị tướng Roman đi diễn hành trên đuờng phố mừng chiến thắng. Sau lưng là một kẻ nô lệ có nhiệm vụ nhắc nhở vị tướng quân rằng mặc dù ông chiến thắng đỉnh cao danh vọng hôm nay, ngày mai ông ta có thể bị ngã xuống, thua trận hay bị lật đổ. Kẻ hầu cận này coi như có nhiệm vụ chuyển tải ý tưởng này với lời cảnh cáo, “Memento mori” (“Hãy nhìn sau lưng ông đi! Nhớ rằng ông chỉ là một thế nhân! Nhớ rằng ông sẽ chết!”)

Chuyện kể ra sao

Câu chuyện đuợc kể bởi hai người thuật lại. Người kể ngôi thứ nhất viết chữ “anh” (you) dần dần “anh” được tiết lộ một nhân vật tên là Earl. Người kể chuyện ngôi thứ ba tường trình hành sử của Earl đứng từ phương diện khách quan ngoài câu chuyện kể.

Người kể chuyện

Câu chuyện bắt đầu với người kể chuyện ngôi thứ nhất đuợc kêu là “anh”. Trong đoạn đầu tiên này, người đọc không biết “anh” là ai mà chỉ khám phá ra rằng người kể có liên lạc với một người nào đó có kinh nghiệm đau thương về mất trí nhớ. Người kể viết rất chi tiết về tình trạng của nhân vật “anh” này. Vào cuối đoạn này người kể tiết lộ mục đích khi kể chi tiết nhân vật “anh” , một người không thể hiểu và không thể nhớ chuyện xẩy ra một cách bình thường được.

Một điều mà “anh” bao giờ cũng nhớ là những gì đã xẩy ra cho vợ anh ta và quan trọng nhất là anh nhớ khuôn mặt gã này Người thuật chuyện viết, đây là lý do mà tôi viết cho anh. Có thể là tầm phào vô dụng. Tôi không biết anh phải đọc bao nhiêu lần trước khi lắng nghe tôi. Tôi cũng không biết là anh đã bị nhốt trong căn phòng này đã bao lâu rồi. Anh cũng chẳng biết đâu. Nhưng điều lợi cho anh khi quên là anh sẽ quên không tự viết xuống lý do đã mất mát.

Ngay đoạn đầu độc gỉa đã thấy khó hiểu và càng đi sâu vào cốt chuyện lại càng thấy cái kỳ lạ, cái nhớ -quên đan vào nhau như võng mắc.

Câu chuyện gồm 11 đoạn. theo thứ tự từng đoạn thì đoạn số 1, 3, 5, 7 là “anh”

Trong đoạn 2, 4, 6, 8, nhân vật Earl qua lời kể của một nhân vật ngôi thứ ba và nhân vật tên Earl chính là “anh” trong đoạn đầu tiên.

Và khi đọc đến đoạn số 9 thì độc gỉa khám phá ra rằng ồ chính “anh” là Earl và nhân vật ngôi thứ nhất này cũng là nhân vật ngôi thứ nhất đã kể về “anh” hay Earl.

Tôi và “anh” đều là Earl cả. Thật là một lối viết chuyện kỳ lạ. Để làm gì nhỉ? Sự đánh lừa này chỉ có một mục đích duy nhất để kể về tình trạng bệnh hoạn của Earl.

Nhân vật “Tôi” khi viết khúc đầu tiên là Earl khi sống với hiện tại trong 10 phút vừa trải qua. Nhân vật “anh” là Earl cho tương lai cho 10 phút sắp tới sau khi cái “tôi” của 10 phút vừa qua vừa chấm dứt. Do đó có câu, “khi anh đọc những lời ghi nhận này thì tôi sẽ đã đi rồi”. Khi Earl tương lai xuất hiện đọc những gì Earl quá khứ 10 phút trước viết rồi viết tiếp cho Earl tiếp theo sau. Cứ mỗi Earl của 10 phút tiếp tục đọc và viết cho đến một lúc thì Earl đủ nhớ để tìm cách thoát khỏi nơi bị giam cầm (nhà thương) và trả thù được cho vợ.

Đoạn gần chót số 10 cho biết tình trạng Earl hiện tại, Earl hiện tại nhìn người đàn ông vừa chết một cách vui mừng và thỏa mãn vì đã trả thù đuợc cho vợ. Nhưng bất thình lình Earl hiện tại đã trở thành Earl quá khứ, và vì Earl không tìm được bút để viết xuống nên Earl 10 phút sau đã quên những gì đã xảy ra. Và sau đó thì Earl lại tiếp tục nhìn vết xâm trên tay và rồi mọi chuyện lại tiếp tục là một vòng lẩn quẩn đi tìm cách giết để trả thù cho vợ, một việc mà Earl đã làm rồi nhưng quên mất rồi.

Một chút về tác giả Jonathan Nolan

Jonathan Nolan, tác giả chuyện ngắn Memento mori, là một văn sĩ rất trẻ chuyên viết chuyện cho phim ảnh và phim truyền hình. Chuyện ngắn này xuất hiện vào năm 2000 và được chuyển đổi để tạo nên cuốn phim Memento do anh của Jonathan là Christopher Nolan đạo diễn.

Jonathan đã được biết đến những năm sau đó qua cuộn phim The Prestige (2005) viết screenplay phỏng theo cuốn sách mang cùng tên của Christopher Priest. Cuộn phim The Prestige rất hay và ly kỳ. Và sau đó Jonathan cùng Christopher Nolan viết screenplay cho The Dark Knight (2008) và The Dark Knight Rises (2010).

Mới nhất là loạt phim truyền hình Person of Interest của đài CBS với nội dung cốt chuyệndo Jonathan viết, bắt đầu từ tháng 2, 2011, và tháng 9 năm nay 2012, loạt phim được tiếp tục hợp đồng làm phim sang năm thứ hai.

Sóng Việt Đàm Giang

http://thehuuvandan.org/firmamentoctober2012.pdf




Wednesday, July 18, 2012

Eszievie. How _ Làm Sao

How?

Honey, you asked me how to win your heart,
When mine is bleeding white, and love is blind,
When you are far away, yet in my mind,
When you invade my soul and never part?

Sweetheart, I yearn for you all my hours,
You are in me, in everything I do,
And sear my heart, my mind and my soul too.
You hold me tight, helpless in your power.

How can I fight to set me free from you?
Will I struggle to break your sway of me?
No, dear, I would rather your servant be.
Give me your heart, dear, if you love me too.

Eszievie

**

Làm Sao?

Em hỏi anh, làm sao chiếm được trái tim em,
Khi con tim này đang mù quáng rướm máu yêu,
Khi em dù xa tắp vẫn tràn ngập ngày đêm,
Xâm chiếm tâm hồn anh mãi không bao giờ xa cách?

Yêu dấu ơi, anh khao khát từng giờ từng phút,
Em luôn luôn bên anh trong công việc hàng ngày,
Len lỏi vào tận cùng ngõ ngách hồn tim óc.
Nắm chặt anh, vô phương thoát năng lực yêu say.

Làm sao mà anh chiếm lại được tư do đây ?
Vùng vẫy lọt ngoài vòng kiềm tỏa vâyquanh?
Không em ơi, anh thích được làm người hầu đấy.
Cho anh trái tim nhé, nếu em cũng yêu anh.

Eszievie



Du Lịch Italy 04: Ravenna- Assisi –Orvieto-Rome

Sóng Việt Đàm Giang

Ravenna- Assisi –Orvieto-Rome

Ravenna

Rời khách sạn Sant Elena sáng sớm trong cái lạnh mùa xuân, chúng tôi đi băng ngang một công viên để lên water taxi trở về bến đậu xe bus. Giã từ Venice với nhiều kỷ niệm đẹp về thành phố, về di tích lịch sử, về công trường, nhà thờ San Marco, nhà tổng trấn Venice, và về cái khách sạn thơ mộng nằm cạnh công viên dọc theo bờ kênh, lòng tràn ngập hình ảnh và kỷ niệm êm đềm.

Xe bus đưa chúng tôi đi xuôi nam để ghé thăm thành phố Ravenna, một thành phố nằm cách ven biển phía đông nước Ý cỡ 6 miles (10km) và nối liến với biển Adriatic bằng một con kênh.
Ravenna nổi tiếng với nhà thờ St Apollinare (The Basilica of Sant' Apollinare Nuovo) xây cất từ thế kỷ thứ sáu, với lối kiến trúc Byzantine mosaics, những bức họa trang trí ở trần giáo đường, tường, và sàn nhà thực hiện bằng lắp ghép mỹ thuật những phiến đá nhỏ. Nhà thờ St Apollinare đã được Unesco coi như là một kiến trúc hòa hợp giữa kiểu Tây âu và Đông âu của cuối thế kỷ thứ 5 đến đầu thế kỷ thứ sáu. Đây là một trong những nhà thờ chứa nhiều hình ảnh quan trọng đáng chú ý cho nghệ thuật tôn giáo Âu châu.
Ravenna còn có Piazza del Popolo, có ngôi mộ của nhà thơ Dante, có Mausoleum of Galla Placidia.
Durante Degli Alighieri, được biết dưới tên Dante Alighieri hay đơn giản hơn là Dante (1265-1321)). Ông là nhà thơ Ý xuất thân từ Florence. Tuyệt tác có một không hai của ông là thi phẩm “The Divina Commedia” (The devine Comedy).

Assisi
Assisi là một thành phố nằm trong khu vực Perugia, vùng Umbria, phía tây núi Subasio. Đây là nơi sinh trưởng của thánh St Francis, người đã thành lập giòng tôn giáo Franciscan trong thành phố từ năm 1208, và St Clare (Chiara d’Offreducci), vị sáng lập The Order of the Poor Clares.

Trong nhiều tour du lịch nếu gồm cả năm thành phố nổi tiếng của Ý là Rome, Venice, Florence, Pisa, và Sienna thì Assisi hầu như luôn luôn được đi kèm. Và thăm viếng thành phố này thật cũng rất đáng, dù du khách không phải là người theo đạo Công giáo.

Người hướng dẫn đã mở đầu cuộc thăm viếng từ dưới thung lũng đi lên núi, dẫn chúng tôi vào xem nhà thờ Santa Maria degli Angeli với những cảnh vẽ trên tường, những bức tượng điêu khắc, và trần nhà thờ.

Rời đây, chúng tôi đi bộ lên dốc để vào thăm nhà thờ San Francesco.
Basilica di San Francesco

Nhà thờ San Francesco một hỗn hợp giữa kiểu Roman Umbria với kiến trúc Gothic của Pháp, thật sự gồm hai nhà thờ, cái trên nằm chồng lên cái dưới. Nhà thờ dưới (1228-30) có ánh sáng chiếu le lói với những tác phẩm vẽ tường của Cimabue và Giotto. Có bức chân dung của thánh Francesco do Giotto vẽ. Và có cốt của St Francesco trong hầm mộ ở nhà thờ. Nhà thờ trên (1228-1253), trái lạì, được tu bổ lại sau trận động đất năm 1997 và mở cửa lại vào năm 2001, thì tràn đầy ánh sáng, và có tác phẩm vẽ tường “ Những cảnh từ cuộc đời thánh Francis” của Giotto.
Basilica di Santa Chiara

Nhà thờ St Clare (1257-1265), đặt tên theo nữ thánh St Clare, sáng lập viên “the Order of the Poor Clares”, một vị thánh đã cống hiến cuộc đời cho sự phát triển giòng Franciscan.

Nhà thờ kiểu Roman với những xọc đá hồng và trắng với những cột chống rất lớn trong nhà thờ, có cửa sổ màu hồng, có bức họa vẽ St Clare và tám cảnh từ đời của vị nữ thánh này.
Trung tâm của Assisi là Piazza del Comune. So với những Piazza ở những thánh phố khác của Ý thì Piazza này rất khiêm nhường với một công trường La-mã có tòa tháp Torre del Popolo, xây đứng ngay cạnh nhà thờ Santa Maria sopra Minerva, hay còn được gọi là The Temple of Minerva với sáu cây cột Corinthian to lớn còn nguyên vẹn ngay phía trước. Có một bảo tàng viện nhỏ tên là Pinacoteca nằm đối diện. Giữa công trường có một bồn phun nước. Con đường chính San Francesco mặt đường lát đá xanh, những con đường nhỏ đi ngang cho nhìn xuống thung lũng Umbria phía dưới. Có một lối đi bằng bực thang đi lên nhà thờ nào đó lát gạch đỏ rất mỹ thuật.
Nhìn xuống thành phố Assisi là cổ thành Rocco Maggiore, và nhỏ hơn là thành Rocca Minore.

Thành phố Assisi thật đẹp, di tích được bảo trì kỹ lưỡng, thành phố hiền hòa bình dị. Khách sạn chúng tôi ở là khách sạn ba sao của thành phố nhưng trong phòng không có một tấm gương lớn ngoài tấm gương nhỏ duy nhất treo trên bồn rửa mặt. Phòng ăn sáng dản dị, thức ăn đồ nguội đầy đủ nhưng trái cây và nước uống không nhiều.

Ngày 10
Orvieto-Rome

Ăn sáng xong chúng tôi rời khách sạn Windsor Savoia để lên xe đi thăm Orvieto trên đường trở về Rome.

Orvieto là thành phố nằm trong vùng Umbria ở miền trung nước Ý. Nó nằm trên cao nguyên của ngưng khôi thạch (tufa), lớp đá tạo nên do sự kéo dài của phún thạch từ ngày xưa phun ra. Orvieto gồm hai vùng riêng biệt: vùng dưới là những xây cất trong thời đại mới hơn và có những tiện nghi của hiện đại, phần trên cao là thành phố cổ từ ngày xưa. Ở thành phố cổ trên cao này du khách có thể thăm viếng Piazzo Duomo có nhà thờ kiểu Gothic cùng những di tích lịch sử cổ xưa. Ngoài nhà thờ kiểu Gothic, Orvieto cũng nổi tiếng về rượu vang và đồ gốm. Hai thành phố mới và cũ nối liền với nhau bằng hệ thống xe kéo bởi dây cáp (funicular) đi lên xuống hai chiều. Một hệ thống xe bus chuyên chở dân chúng và du khách từ Funicular đến Piazzo Duomo cứ mỗi 15 phút một chuyến, chi phí đã tính luôn vào vé đi funicular.

Nhà thờ Orvieto (1290-1500) tọa lạc ở độ cao 195 m trên mặt sông Paglia kể tử sàn nhà thờ, kiến trúc bởi Arnolfo di Cambio theo kiểu Roman-Gothic với đỉnh nhọn hoắt, mặt tiền có ba vòm cửa tròn, có nhiều hình khảm mosaic, hai bên hông xây bằng gạch xọc ngang đen và trắng. Bên trong nhà thờ cột và nhiều chỗ cũng xây gạch xọc đen trắng, có nhiều bức họa vẽ tường của Frà Angelico và Lucca Sigorelli. Đằng sau nhà thờ chính có hai tiểu giáo đường Corporal và St. Brizio.

Đối mặt với Piazza della Republica , và bên cạnh Palazzo Comunale là nhà thờ cổ Andrew và một tòa tháp mười hai cạnh (dodecagonal campanile) rất đặc biệt.

Orvieto cũng có hai toà tháp, tháp Torre del Moro cao 42 m, và Torre di Maurizio rất cổ cao có 1.7 m, tháp chuông Maurizio này đã gióng tiếng chuông hàng giờ suốt từ năm 1351 đến giờ. Chuông nghe rất rõ và vang vọng thật xa.

Đặc biệt ở Orvieto có nhiều hang đào ở dưới đất (có thể đi thăm hang gần Piazza del Duomo), và có một cái giếng thời trung cổ rất lớn. Giếng Pozzo di San Patrizio sâu 62 m, đường kính 13.4 m làm 10 năm mới xong. Trong giếng có hai vòng lộ xoắn không bắt gặp nhau để lừa chở nước lên và đi xuống khỏi đụng nhau.

Đi funicular trở xuống bến xe bus, chúng tôi nay được đưa trở về lại Rome , để rối sáng hôm sau sẽ đáp máy bay về nhà.
Rome

Tới Rome lần thứ hai này cỡ 3 giờ chiều, chúng tôi được xắp xếp ở một hotel khá xa những trung tâm lịch sử. Hotel Villa Pamphili có xe shuttle minivan đưa chúng tôi từ khách sạn đến trước cửa Roman Museum, và từ đó chúng tôi có thể đi chơi đâu tùy ý, rồi tới giờ muốn trở về thì lại đón shuttle bus trở về hotel.

Metro của thành phố Rome tuy ít nhưng cũng thuận tiện cho những nơi thăm viếng, còn nếu không đi taxi cũng thuận tiện.

Xe hơi của Ý rất nhỏ. Nếu các bạn đã xem phim The Italian Job (*) thì đã biết loại xe nhỏ này. Lần đầu tiên tôi nhìn những chiếc xe xinh xinh này lái trước chiếc xe bus của chúng tôi mà thấy hồi hộp trong lòng, nhưng riết rồi cũng quen. Người tài xế lái xe bus của chúng tôi, dáng dấp lịch sự, có phong độ, và dễ nhìn như tài tử George Clooney, lái rất giỏi nên chúng tôi đã có một cuộc du lịch rất an toàn và thoải mái. Hãng du lịch mà chúng tôi đã đi là Globus Tours.

(*) Phim “The Italian Job” nguyên thủy thực hiện vào năm 1969 với Michael Caine đóng vai chính (Charlie Croker), và câu chuyện xẩy ra ở Turin-Italy. Trong “The Italian Job” thực hiện lại vào năm 2003 thì do Mark Wahlberg thủ vai Charlie và câu chuyện xẩy ra ơ Venice-Italy và Los-Angeles-CA,USA. Trong cảnh chạy thoát (getaway) ba chiếc xe Mini kiểu cũ trong nguyên bản 1969 đã được thay thế bằng những chiếc BMW-buit Mini Cooper bắt mắt và chạy nhanh cùng vượt qua trở ngại thật tài tình. (http://en.wikipedia.org/wiki/The_Italian_Job).

Ngày 11-12

Rời Rome trở về chúng tôi phải ngưng ở Frankfurt. Đức. Vì sự chậm trễ của các chuyến bay, nên chúng tôi phải ở lại Frankfurt một đêm, đến sáng hôm sau mới bay trở về nhà. Vì không quen biết và không có ai hướng dẫn nên chúng tôi không đi thăm thành phố Frankfurt mà chỉ ở tại khách sạn. Tối hôm đó và sáng hôm về được ăn thức ăn của Đức rất ngon và lạ miệng.

Phi trường Frankfurt (FRA) là phi trường quốc tế lớn thứ ba của Âu châu. Phi trường rất rộng và có nhiều cửa hàng nổi tiếng với hành hóa mắc tiền như trong một thương xá, hay trong nhiều khu phố bán đồ sang củavài thành phố Ý. Nhân viên tiếp dịch ở Đức lịch sự và nói tiếng Anh giỏi hơn ở Ý nên rất dễ chịu, thoải mái.
Kết luận

Dù đi du lịch nơi nào chúng ta cũng phải cần sửa soạn và tìm hiểu những nơi muốn thăm viếng. Tài liệu Anh ngữ, Pháo ngữ thì rất nhiều, nhưng Việt ngữ thì còn ít.

Loạt bài viết du lịch Ý này chỉ thu gọn trong những địa danh mà người viết đã đi qua.

Tác giả hy vọng bài viết giúp ích được cho độc giả thêm tài liệu để sửa soạn cho chuyến đi du lịch trong tương lai.
Sóng Việt-Đàm Giang
Mùa Xuân 2007



Du Lịch Italy 03: Verona - Venice - Burano

Sóng Việt Đàm Giang

Day 8-9
Verona-Venice

Verona

Ngày ở Florence đã để lại nhiều kỷ niệm đẹp, sau một đêm ngủ thật ngon giấc, sáng nay tôi náo nức được đi thăm Verona trên con đường đi tới Venice.

Verona là một thành phố rất dễ thuơng có Roman Arena và có một di tích nổi tiếng đó là tòa nhà và cái balcon đã đuợc nhà soạn kịch tài danh Shakespeare mang vào kịch bản Romeo và Juliet.

Dù Verona được biết nhiều hơn qua câu chuyện tình Romeo và Juliet của Shakespeare, thật ra đó là một thành phố rất quan trọng ngày xưa, và rất nhiều di tích còn được bảo trì rất hoàn hảo.

Verona nằm dọc theo bờ sông Adige thơ mộng, cách phía đông của Venice 50km (30 miles), và là thuộc địa đầu tiên của của Roma vào năm 89BC.

Sự tranh chấp quyền lực và trả thù lẫn nhau của những gia đình có tiếng giầu quyền lực, làm mưa bão cả thế kỷ thứ 13, là căn bản cho câu chuyện tình Romeo và Juliet của Shakepeare. Verona trở thành một tỉnh của Italy vào năm 1866. Thành phố bị bỏ bom thiệt hại nặng trong thế chiến thứ hai nhưng phục hồi nhanh chóng và trở nên một thành phố có nến kinh tế rất cao.

Từ Piazza delle Erbe, trung tâm của khu thành phố lịch sử với những cửa hàng nổi tiếng, đường phố cấm xe cộ và chỉ dành cho khách bộ hành nên đi lại trong khu này rất vui và dễ chịu. Từ Piazza delle Erbe làm điểm hẹn để trở về xe bus đậu ở bờ sông Adige, chúng tôi tản mát đi thăm thành phố.

Cô tourguide trước khi chia tay để mọi ngưới tự do đi thăm viếng có nhắc lại rằng căn nhà và cái balcony đã được tạo nên từ câu chuyện tình Romeo và Juliet như một tiêu biểu cho bản kịch nổi tiếng của Skakespeare. Đi theo Via Cappello dẫn tới Casa di Giulietta Cappelletti (House of Juliet) với cái balcon nổi tiếng tại Villa Cappelletti, ngay cổng đi vào căn nhà những chữ viết nguệch ngoặc chi chít viết hoặc khắc đầy tường của những đôi uyên ương ghé thăm viếng. Căn nhà là một cấu trúc với tường gạch cũ kỹ, cái balcon là một kiến trúc xây thêm vào năm 1935. Tuy nhiên bức tường với dàn cây leo chi chít, căn nhà lối vào với khung cửa vòng cung nhọn trông cũng thơ mộng vô cùng. Căn nhà Giulietta và balcony này có lúc cho phép mua vé vào thăm, nhưng hôm chúng tôi đến thì không cho vào.

Phía trước căn nhà có một bức tượng Giulietta bằng đồng mà các thanh niên trai trẻ thay nhau đứng cạnh và xoa tay vào ngực bên phải. Tôi lấy là lạ về sự kiện này nhưng sau đó mới hiểu rằng có người nào đó đã dệt nên chuyện xoa tay lên ngực bên phải để có may mắn trong tình trường (?!) và từ đó trở đi nó trở nên một tục lệ (cũng như liệng đồng tiền qua vai khi thăm Trevi’s fountain)!

Đối diện căn nhà Juliet là một rạp hát nhỏ quảng cáo có trình diễn kịch bản “Romeo và Juliet” cho du khách xem. Vào mùa hè hàng năm vào ngày hội Shakespeare có công ty Royal Shakespeare trình diễn.

Theo như tài liệu sách thì câu chuyện tình thê thảm này lúc đầu đã mang địa danh của Siena, nhưng sau đó đuợc chuyển sang Verona, và căn nhà này đã đuợc thành phố mua lại và tạo nó thành căn nhà Juliet (chuyện căn nhà này cũng có li kỳ, nhưng xin không kể vì e làm mất hứng của độc giả).

Rời căn nhà Juliet, chúng tôi theo phố Mazzini đi thăm Roman Arena ở Piazza Brà. Đấu trường này, xây dựng vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên (hoàn tất vào cỡ 30AD) là arena lớn thứ ba của Ý sau Colosseum ở Rome và tại Capua. Arena hình hơi bầu dục với chiều dài 139 m, chiều ngang rộng 110 m, có thể chứa được 22,000 người trên 44 hàng ghế ngồi bằng đá cẩm thạch hồng. Những trò chơi và giác đấu ngày xưa trình diễn ở đây nổi tiếng và thu hút mọi người ở nơi khác đến xem. Hai từng mặt ngoài của arena hiện nay đúng ra là cái dàn chống cho những bậc hàng ghế đá cao phía bên trong, chỉ còn một mảnh tường phía ngoài hiện hữu màu trắng và hồng bằng đá vôi, vì hầu hết phía ngoài đã bị phá hủy bởi trận động đất vào thế kỷ thứ 13. Bên trong arena rất ấn tuợng và hầu như còn giữ được nguyên vẹn.
Ngày nay vào mùa hè, sân khấu lộ thiên Roman Amphitheater này là nơi có những buổi trình diễn ca hát, hoà nhạc hay hát opera. Sau khi leo những bực thang ghế cao đến chóng mặt để lên tận đỉnh arena, đứng trên tầng ghế chót cao của đấu trường tôi thấy được tất cả bốn phía chung quanh các dinh thự, công viên, nhà nhờ, tòa tháp Lamberti phía dưới. Thật là một cảnh đẹp rất mênh mông, bao la, không thể quên đuợc.
Ra khỏi arena, chúng tôi đi lang thang trên phố Mazzini, có thấy một nghệ sĩ hóa trang mặc quần áo trắng, vẽ mặt trắng giả làm Charlie Chaplin đang làm trò cùng chụp hình với du khách. Mazzini là con đường dành cho người đi bộ và là nơi có rất nhiều tiệm bán quần áo, nữ trang, mỹ phẫm nổi danh trên toàn thế giới, rồi chúng tôi đi thăm Piazza dei Signori (cũng được gọi là Piazza Dante) một trung tâm của thành phố Verona thời trung cổ, nơi có bức tượng của nhà thơ thời Phục sinh Danta Aligheri (1265-1321). Tại Piazza delle Erbe có tòa tháp Torre dei Lamberti, bồn phun nước Madonna Verona Fountain của Cansignorio (1368). Cuối công trường có tòa nhà Palazzo Mafei mà trên đỉnh nhà là tượng sáu vị thần La-mã: Jupiter, Mercury, Venus, Apollo, Hercules, và Minerva.

Với địa điểm thuận tiện không cách Venice bao xa, thành phố sầm uất này là nơi thu hút du khách mọi nơi đến tham dự những sinh hoạt văn nghệ đủ loại.
Venice (Venezia)
Rời Verona, chúng tôi được xe bus đưa đến Venice.

Sau khi đi qua một chiếc cầu dài thì chúng tôi được đưa xuống bến để đi thuyền máy nhỏ (water taxi) để đến khách sạn Sant Elena.

Venice thiết lập trên 118 đảo nhỏ nằm trong một lagoon lớn. Hệ thống giao thông là kênh nước (122 kênh nước), và cầu (400 cầu). Grand Canal là trục giao thông chính.

Thành phố này với du khách là mức lợi tức chính, cho nên phí tổn tại Venice thứ gì cũng cao hơn nơi khác, hầu hết lợi tức từ du khách được dùng để duy trì thành phố.
Thời ngày xưa (từ thế kỷ thứ 9), Venice theo chính thể cộng hoà, đứng đầu là vị Tổng-trấn thành Venice (Doge), và thành phố được điều hành bởi hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị này có rất nhiều quyền hành, có tài nguyên thu thập rất lớn do chiến thắng và chiếm đoạt từ những quốc gia xa ngoài biển. Thịnh vượng đổ vào Venice đã làm thành phố này có dư sức xây dựng được nhiều nhà thờ, dinh thự nguy nga lộng lẫy chứa tràn ngập những tranh họa và điêu khắc quý giá. Vào năm 1797, chính thể Cộng hòa bị đổ, Venice sau đó trở thành một đô thị của một hợp chủng Ý quốc vào năm 1866.

Ôi, Venice sóng nước bềnh bồng thơ mộng đây rồi. Thật dễ thương làm sao!
Ngồi trên water taxi chạy dọc trên Grand canal, hai bên bờ là nhà nhờ và nhiều toà nhà kiến trúc rất đẹp mắt. Sau khi nhận phòng khách sạn thì chúng tôi đuợc tourguide đưa lên vaporetti (tàu máy bus trên kênh) tới đậu bến tại Piazza San Marco để thăm thành phố.

Ngày đầu ở Venice, sau khi đi thuyền Gondola và đi chơi vòng vòng quanh Piazza San Marco, đến tối thì chúng tôi đi ăn ở một tiệm ăn khá ngon với rượu vang như thường lệ, tiệm này tôi không nhớ tên nhưng đặc biệt có giếng chứa rượu nằm ngay giữa phòng ăn, và nắp giếng rượu là lớp kính dầy nhìn qua được thấy rõ rượu ở phía dưới. Tối đến thì lên tàu taxi máy chạy trên Grand Canal để ngắm Venice ban đêm.

Sáng ngày hôm sau đó thì chúng tôi đi vào thăm nhà thờ, dinh Tổng trấn, Campanile, vào thăm một tiệm bán đồ thủy tinh xem họ thổi ly và chai lọ thủy tinh rồi đến buổi trưa thì đi thăm đảo Burano và ăn trưa ở đó.
Piazzo San Marco

Công trường St Mark (Piazza San Marco) là một công trường hình chữ nhật rộng lớn, ở đó chim bồ câu nhiều vô kể và rất dạn dĩ. Từ bến đậu của vaporetto, water taxi trạm San Marco đi lên, trước mặt là nhà thờ St Mark’s Basilica Basilica Di San Marco), bên phải nếu đứng đối diện với nhà thờ là toà tháp Campanile, và Dinh Tổng trấn Palazzo Ducale.

Nằm ngay cạnh Piazza San Marco là Piazetta, có hai cây cột cao San Marco và San Teodoro. Hai cột này này được chở tới Venice từ Constantinople và dựng lên vào thế kỷ thứ 12. Một cột ở trên đỉnh là tượng ấn bản San Teodore, người trụ trì Venice trước San Marco (bản tượng chính nằm trong Doge’s Palace). Đỉnh cột thứ hai là tuợng sư tử bằng đồng có cánh, tượng trưng cho Venice.
Nhà thờ St Mark (Basilica di San Marco) hiện tại thật quá tráng lệ huy hoàng, kiến trúc cầu kỳ. Tôi đứng sững trước mặt nhà thờ, có cảm tưởng mơ hồ như mình đang lạc vào câu chuyện ngàn lẻ một đêm với lâu đài của vua chúa Đông Âu. Nhà thờ hiện tại được xây cất vào khoảng 1063 và 1094, trong thế kỷ thứ 11, vì Venice có ảnh hưởng của Greek với kiến trúc Byzantine, nên St Mark có kiến trúc kiểu Byzantine, sau đó lại có thêm vào kiến trúc cột đá cẩm thạch Gothic. Nhà thờ còn mang tên là “Nhà Thờ của Vàng” vì có chứa một bàn thờ vàng (Pala d’Oro) rất dài gắn hơn 3,000 đá quý, cùng cơ man nào là nữ trang quý. Ngoài ra bao nhiêu châu báu tích lũy từ bao nhiêu đời cũng được chứa trong đó. Trong nhà thờ có trưng tượng bốn con ngựa bằng đồng nổi tiếng.
Bốn con ngựa đồng (Horses of St Mark) một sản phẩm nguyên gốc từ Arch of Trojan đã đuợc chiếm đoạt và mang về Venice đã lâu, năm 1797 Napoleon đã chiếm đoạt và mang về Pháp đặt tại Arc de Triump du Carousel. Cho đến năm 1815 thì được trả lại về Venice và trưng trong nhà thớ San Marco. Bản phía ngoài cửa trên cao cửa chính đi vào nhà thớ là ấn bản.
Vì thành phố Venice hay bị ngập lụt nên trong công trường San Marco, phiá trước và bên hông nhà thờ có những cái bàn bằng gỗ dài sắp đầy. Những bàn này được sắp xếp thành hàng, dùng để làm cầu đi nổi dẫn người dân và du khách vào nhà thờ khi nước tràn đầy trên mặt đất.
Rời nhà thờ, chúng tôi sang thăm Palazza Ducale.

Dinh tổng trấn Palazzo Ducale là một điểm hãnh diện của Venice, dinh thư nguy nga này là một kỳ công bậc nhất của kiến trúc Gothic, phía ngoài mặt tiền của Dinh Ducale chạy dọc theo bờ sông hoàn tất vào năm 1419. Sau cửa chính vào Dinh là Porta della Carta, nằm ở mặt Piazetta San Marco, một kiến trúc Gothic xây bởi Bartolomeo và Giovanni Bon vào khoảng từ năm 1438 đến 1442, là một courtyard cầu kỳ rất đẹp. Hành lang bên ngoài dinh dọc theo công trường kiến trúc rất mỹ thuật và bắt mắt với những vòng cung nhọn Gothic xây cất rất tỉ mỉ.

Dinh Palazza Ducale nối liền nhà thờ San Marco ở phía đông với Piazza San di Marco. Đây là nơi có Hội đồng quản trị thành phố, là nơi Tổng trấn ở, có Tòa án, có trung tâm dịch vụ dân sự, có nhà tù. Chúng tôi được hướng dẫn đi thăm và nghe giải thích qua hệ thống audio từng lầu, từng phòng của dinh. Cánh dinh để Tổng trấn ở gồm nhiều phòng thân mật, trang hoàng với tranh vẽ trên trần, với lò sưởi. Phòng lớn La Sala della Mappe vẽ bản đồ thế giới biết đến ở thế kỷ thứ 16. Phòng đợi Anticollegio, phòng La sala dell Senato đón đại sứ các nơi đến thăm viếng, phòng nào cũng đầy tranh của các họa sĩ nổi tiếng của Ý. Phòng The sala del Maggior Consiglio là phòng lớn nhất trải dài và rộng hầu hết lầu một của dinh, nơi này có thể chứa được 2,600 người từ các nơi đến tham dự. Trên tường chung quanh có hình vẽ của 76 tổng trấn đầu tiên. Căn phòng này rất sáng sủa vì có cửa mở trông ra phía ngoài để ánh sáng và không khí tràn vào phòng.

Cũng như một vài nơi khác trong bảo tàng viện của Ý, tôi rất ngạc nhiên vì sự bảo trì những tác phẩm trên tường không theo đúng tiêu chuẩn của những bảo tàng viện khi để cửa sổ mở ngỏ như thế cho nắng gió tự do tràn vào.

Chúng tôi cũng thấy những căn phòng như phòng tra tấn, phòng tạm giam chứa tù nhân. Hành lang dẫn tù nhân từ nhà giam bên dinh tổng trấn đến nhà tù thành phố đi ngang qua một cái cầu bắc ngang kênh nước ở lầu hai mang tên cầu Bridge of Sighs. Qua lời cô tourguide thì tù nhân nhìn được ánh sáng và thành phố một lần cuối khi đi ngang qua cây cầu này trước khi bị tống vào nhà tù, vì cầu có kiến trúc với nhiều cửa sổ nhỏ. Cũng theo lời cô tourguide địa phương và sách thì nhà tù ở Doge’s Palace là nơi đã giam giữ nhiều nhân vật nổi tiếng vào những thời điểm đó. Hai nhân vật quen thuộc được nhắc đến là Giacoma Casanova và Galileo Galilei.
Casanova (1725-1798), sinh trưởng ở Venice, được biết đến như là một nhân vật đào hoa số một của Âu châu. Theo tự chuyện “The history of my life” thì Casanova đã có liên hệ tình dục với 122 thiếu nữ, hay phụ nữ. Casanova ngoài ra còn được coi như một chiến sĩ, một gián điệp, một nhà ngoại giao, nhà văn, và một người thích mạo hiểm. Vì nhiều lý do mà Casanova bị bắt, xử tội và giam ở nhà tù ở Doge’s Palace, nhưng Casanova đã tìm cách trốn thoát và là người đầu tiên trốn thoát ra được khỏi nhà tù nghiêm nhặt này một thời gian rất ngắn sau đó, vào năm 1756.

Galileo Galilei (1564-1642) sinh trưởng ở Pisa, khi còn trẻ đã bị cha ép buộc theo học y khoa, nhưng ông không thích và sau đó bỏ sang ngành toán học và khoa học. Ông Galilei là một nhà vật lý học, toán học gia, nhà thiên văn, và cũng là một triết gia. Galilei có công hoàn chỉnh ống kính thiên văn, và có công lớn với ngành khoa học. Ông đã một thời bị giam ở nhà tù nổi tiếng ở dinh tổng trấn do thất sủng với giáo hội vì ủng hộ lý thuyết của Copernicus. Ông cũng là người không lấy vợ nhưng sống với một người đàn bà và có ba người con.

http://en.wikipedia.org/wiki/Giacomo_Casanova

http://en.wikipedia.org/wiki/Galileo_Galilei

Tòa tháp chuông trước mặt nhà thờ (Campanile), cao 99 m. Tòa tháp xây vào năm 912 cũng được dùng như một nhà đèn (lighthouse). Nhưng đến năm 1902 thì hoàn tòan xụp đổ, sau đó thành phố phải xây lại và đuợc mở cho công chúng lên thăm vào năm 1912. Trèo lên đỉnh tháp, ta có thể nhìn bao quát khắp thành phố Venice.

Bên tay phải của nhà thờ San Marco, có tháp đồng hồ với 24 số La-mã Torre dell’Orologio, phía trên đồng hồ có tượng một con hổ có cánh tượng trưng cho thành phố Venice. (Xem hình

Thành phố Venice tương đối nhỏ, những con đường chật hẹp nho nhỏ thật rối mắt, nhưng được cái may là ngay tại bất cứ ngôi nhà góc đường nào cũng có tên đường phố viết cao hơn đầu người. Và còn có chỉ dẫn những địa danh như mũi tên đi tới cầu Rialto, tới St Mark’s quare etc...

Du khách đến Venice đông nhất cả hàng triệu người vào dịp Carnavale, lễ tổ chức hàng năm trước mùa chay vào tháng Ba, những tiệm bán mặt nạ hoá trang chỗ nào cũng có.

Burano

Burano là một đảo nhỏ nằm phía bắc của lagoon, trên đảo nhà cửa sơn phết đủ màu tươi thật bắt mắt, lại có một cái kênh nhỏ và có những cây cầu xinh xinh bắc ngang kênh. Lại có một tòa tháp nhỏ cũng hơi nghiêng nghiêng, thật dễ thương. Bữa ăn trưa toàn đồ biển thật ngon vì Burano có tiếng là nơi bán cá tươi.
Rời Burano trở về hotel Sant Elena, tôi không lên khách sạn mà đi bộ theo con đường phố duy nhất dọc theo bờ kênh, có những cây cầu lên xuống rất nên thơ để trở lại thăm viếng Piazza San Marco và ngắm cửa hàng trưng bày hàng hóa. Theo chỉ dẫn trên tường, đi theo những con đường nhỏ hẹp với những cửa tiệm bán hàng đủ loại, tôi đến thăm cầu Rialto. Cây cầu Rialto bắc ngang kênh Grand Canal do Antonio de Ponte vẽ kiểu. Cầu Rialto là một cây cầu cũ chứa đầy tiệm bán đồ cho khách du lịch. Ở gần Rialto có chợ cá tươi (Campo della Peschia). Đứng từ trên cầu Rialto nhìn xuống Grand Canal trong buổi hoàng hôn có Gondola đang từ từ trôi, thiệt thơ mộng vô cùng.
Mưa bay nhẹ khi tôi đi tới San Marco, nhưng khi về thì có gió hơi mạnh và mưa có lúc nặng hột. Đường vắng người, không có tiếng xe cộ ồn ào, không khí không ô nhiễm khói, chỉ có tiếng nước sóng dập dềnh vỗ vào bờ tường đá, bờ gỗ, thêm vài chiếc thuyền gondola đang lững lờ trôi.

Một mình lang thang trong mưa giữa Venice thơ mộng có kênh sóng nước bồng bềnh. Một kỷ niệm nhớ đời.

Oh Venice!

Giao thông

Sự giao thông tại Venice hầu như hoàn toàn qua hệ thống kênh trừ khi có thể đi bộ được. Có bốn phương tiện chuyên chở thông dụng trên kênh, đó là vaporetto, water taxi, traghetto, và gondola.

Vaporetto là loại bus trên mặt nước, nếu đi nhiều thì có thể mua pass để đi 90 phút, một, hay ba ngày. Loại này phải chờ lâu mới có chuyến, rất đông người và rất ít/hầu như không có chỗ ngồi.

Water taxi là những thuyền máy riêng chở được một nhóm du khách có chỗ ngồi cho cỡ 100 người. Du khách đi tour thường được cho đi loại này.

Traghetto là thuyền gondola ferry công cộng rẻ tiền chuyên chở người đi ngang Grand Canal từ Venice sang đảo bên kia kênh ở một số địa điểm cố định.

Gondola

Nói đến Venice là phải nói đến Gondola, những cái thuyền mũi cong nho nhỏ do những người chèo thuyền chuyên nghiệp đứng ở đầu mũi thuyền chèo trên Grand Canal cùng kênh nhỏ ngang dọc của Venice.

Du khách nào có máy chụp hình mà không chụp một chiếc gondola thơ mộng? Ngàn đời, gondola là tượng trưng cho và là đặc điểm của Venice.

Cấu trúc của gondola cũng đặc biệt, nó dài 11 m, nặng cỡ 600 kilos, chèo bởi một người với một cây chèo duy nhất. Để cho đặc biệt hơn, gondola được cấu trúc bất đối xứng, nếu chia dọc ra làm đôi từ chính giữa mũi thuyền thì phía bên trái rộng hơn bên phải 24 cm, lý do để quân bình với người chèo thuyền đứng ở đuôi thuyền với mái trèo nước ở bên tay phải. Gondola có đáy thẳng, không nhọn cho phép thuyền lưu thông dễ dàng ở những nơi nước cạn. Thuyền được làm bằng tám loại gỗ khác nhau (gỗ cây tùng-fir, sồi-oak, anh đào-cherry, hồ đào-walnut, cây du-elm, đào hoa tâm-mahogany, lạc diệp tùng-larch, và bồ đề-lime) và gồm 280 mảnh ghép lại. Phần kim khí duy nhất của gondola là mũi sắt và “risso” ở đuôi thuyền. Phần mũi sắt ở đầu thuyền ngoài công dụng để làm quân bằng với sức nặng của người chèo ở đuôi thuyền, còn tượng trưng cho tiểu bản đồ thành phố Venice: sáu sọc gọi là “pettini” (lược) tượng trưng cho sáu “sestieri”, một dải dài hơn tượng trưng hòn đảo Giudecca, chử S đôi tượng trưng cho Grand Canal; trên đỉnh có sừng giống mũ của tổng trấn, và một gọng kính tượng trưng cho cây cầu Rialto.
Thành phố Venice được chia làm sáu quận (siestieri) gồm Cannaregio, Pan Polo, Dorsoduro (gồm cả Giudecca), Santa Croce, San Marco (gồm cả San Giorgo Maggiore), và Castello (gồm San Piedro di Castello và Sant’Elena). (http://en.wikipedia.org/wiki/Venice)

Lúc trước thuyền có thể sơn màu màu khác nhau nhưng nay theo lệnh của thành phố tất cả đều được sơn màu đen. Phí tổn xây một gondola cỡ 20,000 euros. Vài chục năm trước gondola có một cabin ở giữa gọi là felze để phòng hờ trời mưa và mùa đông gió lạnh. Nhưng vì nó ít công dụng và cản trở cái nhìn nên nay họ không làm cabin nữa.

Thuyền Gondola cổ truyền và lịch sử gondola được trưng bày trong bảo tàng viện Musea Storica Navale-Venezia.
Giá tiền mướn gondola không phải rẻ, giá vào tháng Ba 2007 là 40 euros cho 45 phút. Và nếu du khách yêu cầu người chèo đò hát thì phải trả thêm tiền (không phải người nào cũng biết hát). Giá cả cũng thay đổi tùy mùa.
Venice còn rất nhiều di tích lịch sử để coi nhưng thì giờ quá ngắn nên đành phải chờ một dịp khác. Những nơi chưa được thăm viếng là nhà thờ Madonna dell’Orto, Galleria dell’Accademia, Santi Giovanni e Paolo, và Ca’D’Oro (Golden House), v.v...

Sóng Việt Đàm Giang